Hiển thị các bài đăng có nhãn STOCK. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn STOCK. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2020
no image

Paul Samuelson yêu trường Đại học Harvard. Tình yêu ấy hoàn toàn không có gì có thể thay thế được. Ở tuổi hai mươi lăm, số lượng công trình nghiên cứu đăng trên các báo của anh thậm chí còn nhiều hơn số tuổi đó. Tuy nhiên, vị trí của anh dường như vẫn còn thấp kém tại Harvard, nơi người ta xếp anh vào vị trí trợ giảng môn kinh tế học, một vị trí có mức lương thấp. Chiếc ghế giảng viên là một viễn cảnh xa vời. Một trong các đồng nghiệp của Samuelson đã được đề bạt lên làm giảng viên vì bản thân người này có một khiếm khuyết - anh ta xuất thân từ vùng Kansas. Còn Samuclson lại xuất thân từ Gary, bang Indiana. Người Kansas không phải là người Do Thái, trong khi Samuclson là người Do Thái.

Năm 1940, Samuelson đã nhận lời mời để chuyển đến mạn cuối bên kia của vùng Cambridge cách đó ba dặm. MIT là một viện chuyên về các môn khoa học và đào tạo kỹ sư, dường như không hề có một khoa nào về kinh tế học cũng như các khóa đào tạo lãnh đạo kinh tế hay chính trị cho nước Mỹ. Trong thời kỳ mà các trường đại học danh tiếng ở phía đông nước Mỹ âm thầm chống lại cộng đồng Do Thái, "chủ trương ngoại lệ" của MIT chính là họ sẵn sàng tuyển dụng một người trong cộng đồng này, miễn là anh ta thông minh.

Sự tập trung vào kỹ thuật của MIT rất phù hợp với tài năng của Samuelson. Samuelson chọn hướng nghiên cứu kinh tế như một môn khoa học toán. Đó là phương pháp tiếp cận đi ngược lại những thông lệ thời ấy. Từ thời Adam Smith đến John Maynard Keynes, kinh tế học đa phần chỉ là những bài thảo luận. Ớ Harvard, kinh tố hục cùng vẫn được nghiên cứu theo phương pháp luận. Nhưng tại MIT, Samuelson phát triển nó thành toán học.

Samuelson thoải mái với các phương trình vi phân như một nhà vật lý vậy. Giấy tờ nghiên cứu của anh chi chít các "định lý" mà anh gọi đó là kết quả. Nhờ vào điểm này, Samuelson đã kết hợp được những lập luận ngắn gọn nhưng sắc bén vào trong bài thuyết giảng và các ấn bản của mình, khiến chúng khác biệt so với vô số những phát biểu buồn tẻ và dài lê thê khác. Samuelson trở thành một giảng viên xuất chúng. Có lẽ không một nhà kinh tế học nào lúc bây giờ có thể tiếp bước thế hệ trước một cách thành công như Samuelson đã từng làm tại MIT. Tầm ảnh hưởng của anh giờ đây vươn xa ra khỏi Cambridge. Năm 1948, Samuelson tập trung các kiến thức bách khoa và sự tinh tế trong ngôn từ của mình vào trong quyển sách "Economics 101" (Kinh tế học 101). Tựa đề đơn giản chỉ là Kinh tế học nhưng như thế cũng là quá đủ đối với một cuốn sách bán chạy nhất trong mọi thời đại. Có lần Samuelson đã nói: "Nếu như tôi có thể viết cuốn sách này, hãy để những ai có mong muốn được viết nên những điều luật của quốc gia."

Samuelson là người theo chế độ dân chủ. Ông là người đã cố vấn cho ứng cử viên tranh cử tổng thống Adlai Stevenson và Tổng thống John Fitzgerald Kennedy các vấn đề kinh tế. Ông vẫn được đánh giá là nhà tư vấn đáng tin cậy dưới thời của Camelot. Giữa thập niên 1960, ảnh hưởng của Samuelson tới các nhà kinh tế học là tuyệt đối và gần như một tay ông đưa danh tiếng khoa kinh tế MIT lên đỉnh cao vinh quang.
READ MORE
Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020
no image

Thực tế chứng minh khả năng giữ cho “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” và duy trì tâm trạng lạc quan trong thời kỳ khủng hoảng đã đóng 1 vai trò quan trọng tạo nên thành công của Buffett.
7-loi-khuyen-warren-buffett-danh-tang-cho-nha-dau-tu-trong-mot-thi-truong-lao-doc

Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett

Nếu nhà đầu tư muốn tìm kiếm những lời an ủi khi thị trường lao dốc, hãy tìm đến Warren Buffett. Nhà tiên tri xứ Omaha luôn xuất hiện trên tivi hoặc các trang báo lớn để đưa ra lời khuyên gần như trong mọi cuộc khủng hoảng, từ cuộc khủng hoảng 1973-1974, sự kiện Ngày Thứ Hai đen tối (19/10/1987), bong bóng dot-com (2000-2001) cho đến cú sụt giảm sâu sau vụ khủng bố 11/9 và cuộc Đại Suy Thoái (2007-2009)…

Ở Buffett luôn là 1 cái đầu lạnh giữ cho tâm trí bình ổn trước mọi sóng gió. Thực tế cũng chứng minh khả năng giữ cho “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” và duy trì tâm trạng lạc quan trong thời kỳ khủng hoảng đã đóng 1 vai trò quan trọng tạo nên thành công của Buffett. Từ năm 1965 đến 2017, giá trị vốn hóa của Berkshire đạt tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 20,9%, cao hơn gấp đôi so với mức tăng trưởng 9,9% của chỉ số S&P 500 trong cùng kỳ.

Trong bối cảnh VnIndex đang ở trong giai đoạn điều chỉnh mạnh như hiện nay, hãy cùng nghiền ngẫm những lời khuyên đáng giá của huyền thoại Warren Buffett.

1. Bất cứ lúc nào cổ phiếu cũng có thể lao dốc rất nhanh và rất sâu
Trong bức thư gửi cổ đông năm 2017, Buffett cho biết: “Rất khó có thể đoán biết trước được giá cổ phiếu sẽ sụt giảm lớn như thế nào chỉ trong một thời gian ngắn.”

Khi đầu tư vào cổ phiếu, rủi ro xuất hiện khi đồ thị giá đảo chiều. Thực tế, cổ phiếu không thường xuyên xuống giá, nhưng với nhà đầu tư chúng luôn trong trạng thái phản ứng không thể lường trước.

Dưới đây là số liệu thống kê các mức sụt giảm lớn của thị trường trong 60 năm (từ năm 1948 -2007):

7-loi-khuyen-warren-buffett-danh-tang-cho-nha-dau-tu-trong-mot-thi-truong-lao-doc

(Nguồn: Capital Research and Management)

Một thống kê do Hiệp hội các nhà đầu tư độc lập Mỹ và CFRA Research cho biết trong 70 năm (từ giữa năm 1945 đến 2016): Chỉ số S&P 500 có 56 lần sụt giảm 5%- 9,9% trong 56 lần, 21 lần giảm 10%-19,9%, 9 lần giảm 20 – 39,9% và 3 lần giảm từ 40% trở lên.

Thị trường sụt giảm là điều tất yếu sẽ xảy ra, khó có thể tránh khỏi – và chúng có đủ loại kích cỡ và hình dạng.

2. Tránh xa vay margin
Theo lời Buffett, “Đầu tư không phải là một trò chơi nơi người có IQ 160 thắng IQ 130. Nếu như bạn có một trí tuệ bình thường, bạn chỉ cần giữ mình trong một tâm trạng ổn định trong lúc nhiều nhà đầu tư khác lao vào rắc rối là đã có lợi thế .”

Trong khi nhà đầu tư dễ quyết định sai lầm do tác động của đồ thị giá hoặc biến động cảm xúc của chính mình, thì rất tiếc họ lại thường tự đưa mình vào tình huống ngặt nghèo hơn bằng cách vay thêm tiền từ công ty chứng khoán (vay margin). Họ không biết rằng số tiền lãi phải trả sẽ làm hao mòn tài khoản của họ.

Buffett viết: “Thậm chí dù chỉ mượn một khoản tiền nhỏ và cho dù bạn vẫn đủ vững trước một thị trường đang lao dốc, thì những dòng tít đầu trang nhất của các tờ báo và những lời bình luận cay cú từ nhiều người mà bạn không biết cũng đủ để tâm trí của bạn trở nên lo lắng và rung động. Và một tâm trí không ổn định thì sẽ dễ ra quyết định sai.”

3. Đừng dự đoán thị trường tiếp theo ra sao
Đừng tốn thời gian dự đoán thị trường sẽ ra sao trong thời gian tương lai. Chỉ cần biết điều gì đến sẽ đến,

Trong bức thư gửi cổ đông năm 2017, Buffett từng chỉ ra trong hơn 53 năm về trước đã có bốn lần cố phiếu Berkshire đã sụt giảm hơn 37%. Lần lớn nhất là vào khoảng thời gian tháng Ba năm 1973 đến tháng Một năm 1975, giảm đến 59%. Sau đó, cổ phiếu Berkshire lại chịu thêm một số lần tổn thất nặng.

“Không ai có thể nào biết trước được điều đó sẽ xảy ra. Màu xanh của hàng loạt các cổ phiếu trên bảng giá có thể chuyển sang đỏ bất cứ lúc nào, mà không cần phải qua ngưỡng vàng.” – Warren Buffett từng nói.

Với các đợt lao dốc từ thị trường chứng khoán trong nước, cộng thêm ảnh hưởng đồng thời từ các thị trường nước ngoài, tài khoản các nhà đầu tư phải gánh chịu đầy những đau đớn. Nhưng không quan trọng bạn mong muốn tránh nó ra sao, dự đoán thị trường biến động tương lai là điều không thể.

4. Đừng mua bán cổ phiếu theo các hình ‘nến’ xanh đỏ
“Charlie và Tôi nhìn cổ phiếu với góc nhìn cho rằng đó là doanh nghiệp mà Berkshire sẽ sở hữu, không phải là các dấu hiệu mua đi bán lại thông qua các hình ‘nến’ xanh đỏ trên đồ thị kỹ thuật, hay là mục tiêu về ‘giá’ mà các chuyên gia đưa ra hay các quan điểm được đưa tin rầm rộ trên giới truyền thông. Thay vào đó, chúng tôi đơn giản chỉ tin rằng nếu mô hình kinh doanh mà chúng tôi đầu tư vào là thành công (và đa phần đều như thế) thì tức là chúng tôi thành công.” – Warren Buffett.

Trong một thị trường con gấu, đa phần các doanh nghiệp với mô hình kinh doanh tốt và có lợi thế cạnh tranh lớn sẽ thường ít chịu ảnh hưởng rớt giá so với các doanh nghiệp cùng ngành.

Trong lá thư gửi cổ đông thường niên năm 1994, Buffett đã giải thích lý do tại sao các nhà đầu tư nên tránh việc dự báo thị trường: “Nếu chúng ta suy nghĩ đúng đắn về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cho rằng doanh nghiệp đó hấp dẫn, chúng ta sẽ là những kẻ ngốc nếu như không hành động chỉ bởi vì những dự báo không hay về thị trường. Nếu bạn phán đoán đúng về doanh nghiệp, dù sao đi nữa bạn sẽ có được kết thúc tốt đẹp”.

Buffett cũng cho rằng sẽ là.”sai lầm lớn” nếu như không đầu tư vào một doanh nghiệp vĩ đại chỉ vì những lo ngại về thị trường. Năm 11 tuổi, Buffett bắt đầu mua cổ phiếu. Đó là vào năm 1942, khi mà nước Mỹ đang chìm trong rắc rối của Chiến tranh thế giới thứ hai với đầy rẫy những câu chuyện đáng sợ như thế chiến, vũ khí nguyên tử, khủng hoảng lạm phát, và hàng thập kỷ bất ổn chính trị. Theo Buffett, nếu như nhà đầu tư tránh xa thị trường bởi những nỗi lo mang tính vĩ mô như thế này, họ sẽ đánh mất những cơ hội lớn để nâng tầm ảnh hưởng tài sản của mình.

Ngược lại, theo Buffett, môi trường tệ nhất đối với một nhà đầu tư dài hạn lại chính là 1 thị trường đang tăng điểm một cách phi lý và đà tăng ấy lại kéo dài.

“Điều tuyệt nhất đứng từ góc độ Berkshire Hathaway mà nói, là đã đi qua nhiều giai đoạn thị trường lao dốc… Chúng tôi là những người mua hàng, và nếu bạn là những người mua hàng ở các cửa hiệu tạp hóa, bạn sẽ rất thích thú khi giá hàng hóa giảm dần hàng ngày… Điều mà chúng tôi sợ là thị trường tăng điểm một cách phi lý trong suốt thời gian dài”.

5. Tiếp tục giữ vững bản thân cùng thị trường
Đừng là một nhà đầu tư run sợ đến mức rút tiền khỏi thị trường. Hãy tiếp tục với danh mục đầu tư của mình từ trước đó.

Lịch sử cho thấy qua cơn khủng hoảng thì thị trường sẽ liên tục tăng và tạo ra sức hút lớn cho các nhà đầu tư. Trong hơn 100 năm qua, dù vượt qua 13 cuộc suy thoái kinh tế, chỉ số Công nghiệp Dow Jones vẫn tăng 10,3% mỗi năm.

Trong bức thư gửi cổ đông năm 2012, Buffett viết: “Cuộc chơi vẫn còn rất hấp dẫn, Charlie và tôi cho rằng sẽ là một sai lầm lớn nếu nhà đầu tư cố gắng rời khỏi thị trường chỉ vì đi bói vận đen-đỏ ở một ván bài tarot, hay nhờ dự đoán của ‘chuyên gia tài chính’, hay chỉ là do thay đổi tạm thời của đồ thị giá. Rủi ro mất tiền dành cho nhà đầu tư nếu ra khỏi thị trường như vậy là quá lớn, nếu đem ra so với việc họ tiếp tục trụ lại trên thị trường.”

6. Lợi dụng rằng thị trường đang xấu, mua thêm cổ phiếu mới
Còn tốt hơn là chỉ giữ vững danh mục, nhà đầu tư có thể tìm chọn – mua sắm thêm cổ phiếu mới.

Trong một thị trường con bò tót, nhà đầu tư thường hiếm khi tìm thấy một mức giá phải chăng để chọn lựa mua cổ phiếu tốt- dù doanh nghiệp có tốt, cổ phiếu vẫn có thể được bán ở mức giá cao khiến họ không mua nổi được.

Nhưng trong một thị trường lao dốc ầm ầm, thì đó là cơ hội hiếm hoi để họ dễ dàng có thể tìm thấy được giá cổ phiếu của một doanh nghiệp tốt (cho là nhà đầu tư đã lựa chọn được) đang được bán ra ở mức chiết khấu tương đối phải chăng- và họ có thể dốc túi tiền ra mua.

Buffett cho biết, “Hãy tham lam khi người khác sợ hãi và hãy sợ hãi khi người khác tham lam!”. Hay nói cách khác, khi những cơn sụt giảm lớn của thị trường đến… thì đó là cơ hội trời cho để cho những nhà đầu tư dám xông tay vào, trong trường hợp họ không phải lo lắng về nợ nần.8 of 9

7. Tập trung giữ cổ phiếu với mục tiêu dài hạn
Đừng tập trung vào các dự báo kinh tế ngắn hạn hay các tít nóng phổ thông trong lúc thị trường đang lúc lao dốc. Nhà đầu tư không phải là các nhà giao dịch thường xuyên. Họ nhìn nhận các doanh nghiệp với góc nhìn dài hạn.

Trong bức thư gửi cổ đông năm 2017, Buffett viết:

“Cổ phiếu lên và xuống, mà những biến động này nhiều khi chẳng liên quan gì đến giá trị thực sự mà doanh nghiệp đó đang tích lũy. Nhưng theo thời gian, Ben Graham đã nói đúng: “Trong ngắn hạn, thị trường là cỗ máy bỏ phiếu. Trong dài hạn, thị trường là bàn cân”.
READ MORE
Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020
no image

(VNF) - TTCK Mỹ thời gian qua chứng kiến làn sóng tăng điểm mạnh mẽ bất chấp những dự báo rất xấu về sức khỏe nền kinh tế. Tại TTCK Việt Nam, tình hình cũng diễn biến tương tự. Trong nhiều ý kiến đưa ra để lý giải cho sự khác thường này, VietnamFinance trân trọng giới thiệu đến bạn đọc một bài viết của tác giả Edward Iftody đăng trên nền tảng blog Medium có tựa đề "The Great Bull Trap of 2020", tạm dịch là " 'Đại bull-trap' năm 2020".

'Đại bull-trap' năm 2020

'Đại bull-trap' năm 2020 (Ảnh minh họa)

Edward Iftody cho rằng làn sóng khác thường này là một "bẫy tăng giá khổng lồ" (hay "đại bull-trap"), có phần tương tự năm 1929. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
* * *
"Con số thất nghiệp kỷ lục được công bố và thị trường đi lên. Tỷ lệ tử vong gia tăng và lan truyền trong cộng đồng xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới, thị trường vẫn đi lên. Những tuyên bố đáng báo động rằng bệnh nhân có thể bị tái nhiễm sau khi chữa khỏi, thị trường vẫn đi lên.
Nếu bạn còn băn khoăn, điều đó là tốt. Các nhà đầu tư, chuyên gia và các nhà phân tích của CNBC giờ đây hoàn toàn bị bối rối trước hành động của thị trường chứng khoán trong thời gian gần đây.
Hôm nay, tôi sẽ đưa ra 5 lý do tại sao tôi tin rằng chúng ta đang ở đâu đó giữa một cú bull-trap khổng lồ (hay cuộc nổi dậy của thị trường gấu), rất giống với những gì đã xảy ra vào cuối năm 1929 và tại sao sắp tới, chúng ta có thể chứng kiến cơ hội mua vào hiếm hoi trong cuộc đời.

Tại sao thị trường tăng?

Một số chuyên gia vẫn nghĩ rằng tất cả các tin tức xấu đã được phản ánh vào giá và chúng ta đang trong giai đoạn đầu tiên của sự phục hồi hình chữ “V”. Kết cục này đang ngày càng khó xảy ra khi ngày càng có nhiều tin tức kinh tế được công bố hơn.
Những lý do tôi nghĩ rằng khiến thị trường nhanh chóng tăng điểm:
Thứ nhất, các khoản lương hưu và quỹ phòng hộ sẽ phân bổ lại lợi nhuận từ thu nhập cố định vào các cổ phiếu bị bán quá mức trong bối cảnh lãi suất được cắt giảm ở mức chưa từng có.
Tiếp đến là sự lạc quan của thị trường khi một số lượng tiền khổng lồ được bơm vào các nền kinh tế trên thế giới thông qua các gói hỗ trợ.
Cùng với đó, hiện nay, tôi nghĩ rằng chúng ta đang chứng kiến sự kết hợp giữa việc người bán khống cắt lỗ và hiệu ứng FOMO (Fear of missing out – sợ bỏ lỡ cơ hội).
Những cuộc “nổi dậy” trong thị trường gấu rất khó hiểu và hiệu ứng FOMO thường thu hút các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm. Tuy nhiên, mỗi ngày trôi qua, ngày càng nhiều nhà phân tích và chuyên gia đi đến sự đồng thuận rằng chúng ta đang trong quá trình phục hồi lâu dài.
Tuy nhiên, hiện giờ tôi lại cho rằng chúng ta nên chuẩn bị cho một thị trường giảm điểm sâu, kéo dài nhiều tháng, có thể trong phần còn lại của năm 2020 và có thể còn hơn thế nữa.
Đúng là không có thị trường gấu nào giống hết nhau, nhưng nhìn lại các mô hình lịch sử cũng giúp chúng ta đưa ra một số ý tưởng trong tương lai.
Hãy nhìn vào mô hình năm 1929. Có một sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa 100 ngày đầu tiên của thị trường gấu năm 1929 và năm 2020. Trong cả hai trường hợp, đã có một sự lao dốc đột ngột, sau đó là sự phục hồi đáng kể trong thời gian tương đối dài.
Một khác biệt giữa các sự kiện là vào năm 2020, có vẻ như công nghệ giao dịch và truyền thông hiện đại đang khiến các sự kiện diễn ra nhanh hơn gần gấp đôi so với năm 1929. Chỉ trong 30 ngày, chúng ta đã hoàn tất cú lao dốc đầu tiên và bắt đầu hồi phục. Trong khi đó, năm 1929 mất khoảng 50 ngày.
Cú bull-trap năm 1929 kéo dài trong khoảng 100 ngày rồi đảo chiều. Nếu chiếu theo mô hình này, chúng ta có thể chỉ còn vài tuần hoặc thậm chí vài ngày nữa là hoàn thành cú bull-trap và tiếp tục rơi vào thị trường gấu dài hơn, tàn bạo hơn và cũng là lúc tạo ra cơ hội mua tuyệt vời.
Đường màu đỏ là đại khủng hoảng năm 1929. Đường màu xanh là đại suy thoái năm 2007
Diễn biến Dow Jones cập nhật đến ngày 17/4/2020

Đánh giá nhanh về vụ sụp đổ năm 1929

Tất nhiên, lịch sử vang vọng hơn là lặp lại. Các tác nhân gây ra sự sụp đổ trên thị trường là hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, khi nghiên cứu để viết bài này, tôi đã bị ấn tượng bởi sự tương đồng đáng báo động giữa năm 1929 và năm 2020 khiến tôi tin rằng đang có một cái bẫy tăng giá.
Thế chiến
Trong Thế chiến thứ nhất, trái phiếu tự do đã được giới thiệu ra công chúng và thậm chí được người nổi tiếng như Charlie Chaplin tán thành, để giúp tài trợ cho chiến tranh. Nhiều người mua trái phiếu chiến tranh vì nghĩa vụ với đất nước.
Trái phiếu này được Kho bạc Hoa Kỳ đảm bảo thanh toán lãi cứ 6 tháng một lần.
Mặc dù không phổ biến rộng rãi với công chúng đầu tư nhưng cuối cùng, trái phiếu tự do cũng đã được giới thiệu tới những người bình thường ý tượng về đầu tư các khoản tiết kiệm và nhận về tiền lãi.
“Những năm 20 gầm thét”
Sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, đã có sự mở rộng kinh tế và thiết lập sự giàu có, được gọi là “những năm 20 gầm thét”. Theo thời gian, công chúng được giới thiệu về đầu tư chứng khoán và mọi người bắt đầu có sở thích kiếm tiền dễ dàng thông qua các cổ phiếu được giao dịch công khai. Đến cuối những năm 1920, có sự đồng thuận lớn rằng thị trường sẽ tiếp tục tăng mãi mãi.
Công chúng vẫn còn tương đối lạ lẫm với đầu tư, nhưng nhiều nhà đầu tư nghiệp dư đã rót tiền vào thị trường trong lúc thị trường tăng, một số đã tạo ra thành quả trước khi thị trường giá lên kết thúc sau 9 năm hoạt động mạnh mẽ.
Ngày thứ Năm đen tối
Đầu năm 1929, đã có những dấu hiệu tiêu cực trong nền kinh tế khi sản lượng tiêu thụ thép và ô tô giảm dần, trong khi nợ tiêu dùng tiếp tục tăng do tiêu chuẩn tín dụng thấp. Tuy nhiên, thị trường đã bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo và tiếp tục tăng cho đến tháng 9/1929.
Chỉ mới có một tháng đầu tiên mà nhiều người tham gia thị trường đã cho rằng đây là một đợt “điều chỉnh lành mạnh”. Mặc dù có sự phục hồi ngắn, nhỏ, biến động trên thị trường ngày một tăng. Ngày 24/10/1929, ngày thứ Năm đen tối – thị trường đã giảm 11%.
Các nhân viên ngân hàng nổi tiếng ở Phố Wall đã gặp nhau để cố gắng tìm ra cách lấy lại niềm tin của nhà đầu tư và tạm dừng việc bán tháo cổ phiếu. Họ quyết định gom một lượng lớn tiền từ ngân hàng để mua cổ phiếu, đặc biệt là các cổ phiếu blue-chip. Thị trường tạm thời phục hồi.
Ngày 28/10/1929, là ngày thứ Hai đen tối – thị trường giảm gần 13%. Một lượng lớn tiền mặt đã được đưa vào thị trường bởi các chủ ngân hàng nổi tiếng – bao gồm cả Rockefeller – tuy nhiên, hành động bán cuối cùng cũng không thể dừng lại được và thị trường chứng khoán tiếp tục sụp đổ cho đến giữa tháng 11.
Mặc dù sự lao dốc ban đầu gây sốc nhưng những gì tiếp theo hóa ra còn tồi tệ hơn. Thị trường đã phục hồi khoảng 50% trong một đợt tăng giá trong vòng 5 tháng trước khi trượt xuống mức thấp nhất, từ tháng 4/1930 đến ngày 8/7/1932. Tổng mức giảm của thị trường là 90% từ đỉnh.

5 lý do vì sao chúng ta có thể sớm nhìn thấy cơ hội mua vào hiếm hoi trong cuộc đời

Cuộc “nổi dậy” trên thị trường hiện tại và các điều kiện kinh tế cơ bản có chung một số điểm tương đồng đáng chú ý với cuộc “nổi dậy” diễn ra vào cuối năm 1929, đầu năm 1930.
1. Nợ
Thị trường đã tăng giá đều đặn để từ cuộc đại suy thoái 2007 – 2009. Các nhà đầu tư đã kiếm được rất nhiều tiền, ngay cả nhà đầu tư mới cũng tự tin đầu tư vào các tài sản rủi ro hơn bao giờ hết.
Mặc dù suy thoái kinh tế đã được dự đoán rộng rãi vào cuối năm 2019 hoặc đầu năm 2020, động thái cắt giảm thuế của Tổng thống Trump đột nhiên khiến đầu tư trở thành một trò chơi không thua lỗ. Giá cổ phiếu tăng tốc cho đến mua thu năm 2019, đến giữa tháng 2/2020, sự trượt dốc bắt đầu xảy ra do lo ngại về đại dịch.
Thật không may, giống như “những năm 20 gầm thét”, nợ hộ gia đình hiện giờ rất cao, cao hơn cả cuộc suy thoái năm 2007. Nợ quốc gia cũng cao chưa từng thấy kể từ Thế chiến thứ hai và vẫn đang tăng nhanh. Nhiều hộ gia đình thậm chí không thể trang trải ngay cả khi được hỗ trợ 400 USD.
Mọi thứ đã diễn ra theo một cách kỳ lạ. Tại sao chúng ta lại phải thế chấp thêm và trả nợ với lãi suất thấp khi mà bạn có thể kiếm được lợi nhuận cao hơn nhiều trên thị trường chứng khoán?
Với tất cả mọi người đang thực hiện “giãn cách xã hội”, các khoản nợ của các hộ gia đình có thể sẽ sớm vỡ nếu họ không thể quay trở lại làm việc trong tương lai gần. Không có nguồn thu nhập đáng tin cậy, nhiều hộ gia đình sẽ phải bán các tài sản có đòn bẩy quá cao, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, quỹ tương hỗ và bất động sản – bất kể mọi điều kiện thị trường.
Tình hình nợ quốc gia của Mỹ
Không chỉ các hộ gia đình, nhiều doanh nghiệp cũng đang gánh quá nhiều nợ. Ngay cả khi thị trường tăng trưởng hoành tráng, nhiều nhà kinh tế như Nouriel Roubini đã cảnh báo về một cuộc khủng hoảng tín dụng sắp xảy ra. Hiện giờ, đối mặt với một cú sốc kinh tế đột ngột, rõ ràng nhiều doanh nghiệp không thể đáp ứng nghĩa vụ nợ nếu không có sự hỗ trợ tài chính đáng kể hơn.
2. Các gói hỗ trợ tài chính hoành tráng
Giống như các nhân viên ngân hàng đã làm trong vụ sụp đổ thị trường năm 1929, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã cung cấp gói hỗ trợ tài chính chưa từng có trong nỗ lực trấn an và hỗ trợ thị trường.
Mặc dù việc can thiệp tài chính phần nào giúp loại bỏ rủi ro đóng băng tín dụng nhưng trớ trêu thay, nó cũng làm tăng thêm sự không chắc chắn bằng cách làm "mờ" đi việc phát hiện rủi ro. Ví dụ, Boeing có được cứu trợ không? Câu trả lời ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Theo cách tương tự, một sự can thiệp tài chính cũng làm lu mờ đi các quyết định kinh doanh quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ví dụ, các khoản trợ cấp tiền lương cho doanh nghiệp nhỏ không diễn ra suôn sẻ. Đã có những video trên YouTube được tạo ra bởi các chủ doanh nghiệp nhỏ nêu chi tiết về cuộc đấu tranh của họ nhằm tiếp cận được gói hỗ trợ tài chính – trái với sự đảm bảo của chính phủ.
Có vẻ như các ngân hàng không sẵn lòng hoặc không thể gia hạn các khoản vay do chính phủ bảo trợ cho các doanh nghiệp nhỏ. Một số suy đoán cho rằng đó là vì không có đủ lợi ích tài chính cho các ngân hàng để họ nhận về công việc mang tính hành chính này.
Hiện chúng ta đang phải đối mặt với sự không chắc chắn liên quan đến sự sẵn có của các khoản vay để tài trợ tiền lương, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với tình trạng khó xử trong việc giữ lương cho nhân viên và hy vọng các khoản vay sẽ được gia hạn hoặc sa thải nhân viên, hủy bỏ hợp đồng thuê thương mại và cố gắng tích trữ bất kỳ khoản tiền mặt nào mà họ còn có thể để cứu lấy doanh nghiệp mà họ đã mất nhiều năm để xây dựng.
3. Lượng thất nghiệp cao lịch sử
Chỉ trong vài tuần, hàng triệu người trên toàn thế giới đã hoặc sẽ sớm phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp. Một số nhà kinh tế tin rằng con số thất nghiệp cuối cùng có thể cao hơn cả cuộc Đại suy thoái những năm 1930.
Thất nghiệp hàng loạt một cách đột ngột tạo ra hiệu ứng domino. Các chủ nhà đang phải đối mặt với một số lượng đáng kể người thuê từ chối trả tiền nhà. Theo tờ New York Times, khoảng 31% người thuê nhà không thể trả tiền nhà.
Chủ bất động sản thương mại trên toàn thế giới có thể gặp nhiều rắc rối hơn. Nhiều người không sẵn sàng trả tiền thuê trong thời gian chính phủ yêu cầu đóng cửa.
Ngay cả khi sự đình trệ này kết thúc sớm, không có nhà khoa học đáng tin cậy nào khẳng định rằng chúng ta có thể loại bỏ được việc “giãn cách xã hội” mà không để xảy ra nguy cơ tái bùng phát. Có vẻ như rõ ràng, các chủ nhà ở cũng như bất động sản thương mại sẽ phải đối mặt với áp lực tài chính đáng kể trong tương lai gần.
Đến giờ, mọi thứ có vẻ chắc chắn, một số sẽ rơi vào phá sản.
4. Sự suy giảm tiêu dùng dài hạn
Giống như năm 1930, một số lượng lớn người thất nghiệp trong thời gian dài cuối cùng sẽ dẫn đến việc giảm đáng kể hoạt động kinh tế trong thời gian dài do sự cung cầu đều bị phá hủy đáng kể.
Các doanh nghiệp không thiết yếu trên toàn thế giới đang phải đối mặt với việc chấm dứt kinh doanh hoàn toàn theo lệnh từ chính phủ và khuyến cáo của các chuyên gia y tế. Nhà hàng, khách sạn và nhiều doanh nghiệp ngành dịch vụ khác phải đối mặt với mối đe dọa kinh doanh nghiêm trọng và hoàn toàn bất ngờ.
Ngay cả khi việc đóng cửa được nới lỏng, mọi người vẫn có nguy cơ bị cách ly trên tàu du lịch. Mọi người có nguy cơ bị mắc kẹt ở nước ngoài vì một kỳ nghỉ. Các nhà hàng buộc phải chỉ cung cấp dịch vụ hoặc chỉ cho phép một số lượng khách ít hơn đáng kể trước đây vào dùng bữa trong nhà hàng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi nhuận.
Khi điều này kéo dài hàng tháng trời, kể cả khi được hỗ trợ thì một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp này cuối cùng cũng sẽ buộc phải đóng cửa vĩnh viễn. Điều này có thể khiến một số lượng lớn chủ bất động sản phải đối mặt với nguy cơ tài sản dừng sinh lãi và có lẽ sẽ buộc hàng triệu người rơi vào tình trạng thất nghiệp, khiến cho hoạt động tiêu dùng diễn biến xấu đi.
5. Triển vọng sớm có vaccine ngày càng xa vời
Donald Trump muốn mọi người trở lại làm việc vào lễ Phục Sinh. Shinzo Abe tin rằng có thể cứu Thế vận hội mùa hè. Có vẻ như ban đầu không có nhà lãnh đạo nào lắng nghe các nhà khoa học.
Tuy nhiên, các nhà khoa học đã tiếp tục lặp đi lặp lại cảnh báo: giãn cách xã hội, xét nghiệm và cách ly. Dù vậy, nếu không có vaccine, sẽ không có giải pháp lâu dài để khắc phục những tác động kinh tế do đại dịch gây ra.
Mặc dù các nhà lãnh đạo thế giới dường như hiểu được mức độ nghiêm trọng của loại virus này, nhưng tôi không nghĩ rằng tất cả trong số họ đồng ý với thực tế là rất lâu mới có thể tìm ra vaccine. Tiến sĩ Fauci đã nhiều lần tuyên bố rằng sẽ không có vaccine trong vòng một năm hoặc 18 tháng. Gần đây, tôi đã nghe một số bác sĩ và các nhà lãnh đạo như Bill Gates nói rằng chúng ta có thể phải chờ 18-24 tháng hoặc lâu hơn để vaccine có mặt trên toàn cầu.
Một tài liệu gần đây bị rò rỉ trên tờ New York Times cho thấy chúng ta sẽ phải duy trì việc đóng cửa một phần trong nhiều tháng nếu không muốn chứng kiến sự gia tăng đột biến về số người chết. Đóng cửa một phần suốt 12 tháng sẽ là điều khủng khiếp với nền kinh tế thế giới. 24 tháng sẽ phá hủy hoàn toàn.

Lịch sử sụp đổ và phục hồi của thị trường chứng khoán

Những thị trường chứng khoán lớn giảm mạnh thường mất nhiều năm để phục hồi. Vì sao lần này sẽ khác?
Diễn biến TTCK trong đại suy thoái năm 2007
TTCK Mỹ (giai đoạn 1925 - 1955) trải qua đại khủng hoảng năm 1929 với cú bull-trap là phần khoanh màu đỏ
Ngày thứ Hai đen tối năm 1987 và sự phục hồi sau đó

Vài lời sau cùng

Khó có thể bỏ qua những điều kiện tiên quyết gây ra sự sụp đổ vào năm 1929 và tạo ra cú bull-trap khổng lồ. Những điều tương tự cũng xuất hiện vào năm 2020.
- Quá nhiều đòn bẩy.
- Quá nhiều nhà đầu tư hào hứng.
- Quá nhiều niềm tin vào các nhà hoạch định chính sách.
Một số người có thể lập luận rằng các công cụ tài chính mà chúng ta dùng để chống lại suy thoái đã được thiết lập sau một chặng đường dài kể từ vụ sụp đổ năm 1929 và tin rằng cuối cùng, sự can thiệp tài chính sẽ cứu chúng ta. Tuy nhiên, ngay cả khi công cụ tài chính của chúng ta hiện nay vượt trội hơn năm 1929 thì dường như vào năm 2020, chúng ta lại bị một cơn bão hoàn hảo tấn công. Ngoài tất cả những vấn đề tương tự mà chúng ta đã lặp đi lặp lại từ năm 1929, chúng ta còn có:
- Thất nghiệp kỷ lục do ngừng hoạt động kinh tế đột ngột.
- Mức nợ kỷ lục trở nên hoàn toàn không bền vững khi nền kinh tế đột ngột dừng lại.
- Một loại virus hiện không thể chữa được khiến cho việc tái khởi động nền kinh tế trở nên rất khó khăn.
FED và Quốc hội Mỹ đã làm việc chăm chỉ để củng cố thị trường tín dụng và Jay Powell nói rằng FED vẫn còn nhiều "đạn dược" để chống lại sự suy thoái này. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng những nỗ lực cuối cùng có thể trở thành vô ích nếu như chúng ta không thể sớm tìm thấy vaccine.
Nếu tôi như đang nói chuyện với một người bạn, tôi có lời khuyên thận trọng với hiệu ứng FOMO ở thời điểm này – không đuổi theo sự “nổi dậy”. Còn có rất nhiều rủi ro. Tại sao không đứng bên lề bây giờ? Nếu hóa ra chúng ta đang ở giữa cuộc “đại bull-trap” của năm 2020 thì sự kiên nhẫn sẽ được đền đáp bằng một trong những cơ hội mua vào hiếm có nhất trong đời. Nếu tôi sai và chúng ta bắt đầu bằng một thị trường tăng giá mới, gần như chắc chắn sẽ có điểm mua vào tốt trong tương lai gần.
Tiết lộ: Tôi đang giữ khoảng 95% tiền mặt khi tôi xuất bản bài viết này. Vui lòng tìm kiếm lời khuyên chuyên nghiệp trước khi đưa ra bất kỳ quyết định đầu tư nào.".

READ MORE
no image


Trên phố Wall, Jean-Marie Eveillard được đánh giá là người có những lời khuyên ảnh hưởng nhất đối với những nhà đầu tư "tư nhân nhỏ" bởi dịch vụ tư vấn tài chính của ông đã giúp đã hàng chục nghìn nhà đầu tư cá nhân xây dựng phương pháp và chọn lọc doanh nghiệp tốt trong đầu tư.

Jean-Marie Eveillard (sinh năm 1940) là một doanh nhân, nhà đầu tư nổi tiếng tại người Pháp. Ông được sinh ra ở Poitiers, một ngôi làng nhỏ nước Pháp vào năm 1940 trong một gia đình công nhân nghèo thời đó. Ông lớn lên, trưởng thành, học phổ thông và đại học chuyên ngành kinh tế tại chính đất nước Pháp xinh đẹp.

Năm 1970, ông cùng gia đình chuyển đến Hoa Kỳ, Eveillard đã đảm nhận vị trí việc lại đầu tiên tại quỹ đầu tư quốc tế SoGen (SoGen International Fund) với tư cách là nhà phân tích, người quản lý danh mục đầu tư. Trong suốt thời gian làm việc tại quỹ SoGen, ông đã nhận được rất nhiều giải thưởng lớn danh giá. Bắt đầu vào năm 2009, ông đồng thời nhận thêm vai trò cố vấn cao cấp cho quỹ đầu tư First Eagle.

Trong suốt 50 năm đồng hành cùng thị trường chứng khoán, vào năm 2001 ông được mệnh danh là " Nhà quản lí quỹ đầu tư thành công" và chỉ 8 năm sau đó, ông nhận thêm giải thưởng "Nhà quản lý quỹ thập kỷ của thị trường chứng khoán Mỹ ". Năm 2003, Eveillard đã nhận thêm một giải thưởng danh giá nữa là "Nhà quản lí quỹ có thành tựu bền vững".

Ngoài vai trò là cố vấn cấp cao, Eveillard tiếp tục là thành viên của Hội đồng quản trị của Quỹ First Eagle và Phó chủ tịch cấp cao của First Eagle Investment Management, LLC. 5 năm sau đó, Eveillard tham gia vào công tác giảng dạy, nhận vai trò giáo sư giảng dạy thực hành chuyên nghiệp trong khoa kinh tế đầu tư của trường đại học kinh doanh Columbia.

Trong giai đoạn điều hành quỹ đầu tư và tư vấn khách hàng, ông đều có thành công rực rỡ với tỷ suất sinh lời trên 32%/năm. Trên phố Wall, ông được đánh giá là người có những lời khuyên ảnh hưởng nhất đối với những nhà đầu tư "tư nhân nhỏ" bởi dịch vụ tư vấn tài chính của ông đã giúp đã hàng chục nghìn nhà đầu tư cá nhân xây dựng phương pháp và chọn lọc doanh nghiệp tốt trong đầu tư.

Ông tin tưởng rằng con đường dẫn tới thành công đích thực trên thị trường chứng khoán đó là cống hiến toàn bộ thời gian và tâm trí cho công việc này bởi đây là một môi trường đầy những thách thức to lớn.

[Quy tắc đầu tư vàng] NĐT đạt tỷ suất sinh lời trung bình 32%/năm nhờ trung thành với chiến lược tìm những công ty trước khi nó thành công - Ảnh 1.
Nếu như dành toàn bộ thời gian để nghiên cứu về chứng khoán, nhà đầu tư sẽ tìm ra được những quy luật của chu kỳ thị trường và cổ phiếu. Ông cho rằng thị trường chứng khoán không quyết định sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nhưng lại phản ánh bộ mặt của nền kinh tế.

Khả năng hiểu và đưa ra quyết định phù hợp với xu hướng thị trường là một kỹ năng bắt buộc. Ông tin rằng giá cổ phiếu phản ánh sự thật về nền kinh tế và rằng tâm lý quá lạc quan, được thấy rõ khi giá cổ phiếu tăng cao, thậm chí nguy hiểm hơn so với tâm lý bi quan bởi vì khi quá lạc quan bạn sẽ không thận trọng nữa.

Những lời khuyên cụ thể trong đầu tư mà ông chia sẻ như sau:

Biết tận dụng các xu thế thị trường

Một đặc điểm khác của các nhà đầu tư thành công theo ông là họ luôn biết lấy các xu thế thị trường để làm lợi cho mình. Một nhà đầu tư bình thường sẽ hoảng loạn khi thị trường biến động, nhưng một nhà đầu tư chuyên nghiệp lại rất nóng lòng chờ đón điều đó. Đơn giản vì họ có thể kiếm tiền từ việc này. Bên cạnh đó, những nhà đầu tư giao dịch thành công thường có nguyên tắc rút khỏi thị trường khi họ giao dịch không phù hợp với xu hướng thị trường thay vì cố gắng tiếp tục giao dịch trên thị trường khi nguy hiểm.

Kết hợp giữa đầu tư tăng trưởng và đầu tư giá trị để tìm ra cổ phiếu của các công ty nhỏ, tăng trưởng trước khi nó thành công và trở thành công ty lớn (còn gọi là hidden gem - viên ngọc ẩn dấu).

Công cụ chính mà ông phát minh ra và phổ biến để tìm kiếm loại cổ phiếu này là tỷ lệ PEG (so sánh P/E của một công ty với tốc độ tăng trưởng dự kiến hoặc ước tính của thu nhập mỗi cổ phiếu).

Ông nhận ra rằng, tỷ lệ P/E cao không đồng nghĩa với việc cổ phiếu đó đắt nếu tăng trưởng thu nhập của nó cũng cao và ngược lại. Ví dụ, nếu cổ phiếu của một công ty có mức P/E tương đối cao là 30 nhưng lợi nhuận của nó được dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ 30%, thì nó sẽ có PEG là 1, và đây là một tỷ lệ tốt để đầu tư. Ngày nay, tỷ lệ PEG đã được các nhà phân tích đầu tư sử dụng rất rộng rãi.

Nhà đầu tư nên thiết lập giới hạn lên mức giá sẽ trả cho một cổ phiếu, tính theo lợi nhuận trung bình trong khoảng 7 năm.

Gợi ý của ông nhà đầu tư hãy giới hạn mức giá trả cho một cổ phiếu là bằng áng chừng tầm 25 lần số lợi nhuận trung bình trong 7 năm, và không quá 20 lần cổ tức của giai đoạn 12 tháng gần nhất. Nếu nhà đầu tư cá nhân chú ý điều này sẽ giúp tránh cho việc mua nhầm các cổ phiếu đang bị định giá quá cao so với thực tế.

Hãy chọn công ty có thành tích liên tục về việc chi trả cổ tức đều đặn

Cổ tức chính là cam kết của công ty đối với các cổ đông. Chính vì vậy nhà đầu tư cá nhân hãy chọn các công ty có lịch sử chi trả cổ tức đều đặn từ 10-20 năm liên tục trong lịch sử quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.

Nhìn thật kĩ báo cáo tài chính trong 5 năm liên tiếp để ra quyết định lựa chọn

Theo ông, một cổ phiếu được chọn khi báo cáo tài chính 5 năm liên tiếp tới thời điểm khuyến nghị trên báo cáo đều phải có lãi, không năm nào có lỗ. Nếu trong vòng 5 năm trước công ty có lợi nhuận sụt giảm tại năm nào đó thì nó phải đạt được mức cổ tức cao nhất trong năm gần nhất. Điều này chứng tỏ công ty đang thật sự có động lực để tăng trưởng.
READ MORE
Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2020
no image

Covid-19 đang khiến toàn thị trường chứng khoán lao đao với chỉ số S&P 500 bị thổi bay 28,9% trong tháng qua, nhưng những cổ phiếu sau vẫn đang là những điểm sáng của thị trường.

16 cổ phiếu S&P 500, tương đương 3% chỉ số cùng tên đang ghi nhận lợi nhuận trong tháng qua, trong khi 484 công ty còn lại đều chìm trong sắc đỏ, theo dữ liệu của Bloomberg từ ngày 18.2-18.3.

Regeneron là cổ phiếu hoạt động tốt nhất trong bốn tuần qua với mức tăng 22%. Công ty công nghệ sinh học Mỹ này hiện đang đứng đầu chiến tuyến tạo ra thuốc trị vi-rút corona chủng mới và gần đây đã đạt được những đột phá trong nghiên cứu. Ngày 17.3 vừa qua Regeneron tuyên bố sẽ tiến hành thử nghiệm trên người loại thuốc có khả năng phòng hoặc trị Covid-19.

Cabot là công ty đứng thứ hai trong danh sách doanh nghiệp đang sinh lợi trên thị trường. Đây là một trong số hiếm các công ty năng lượng thoát khỏi vòng xoáy khủng hoảng gây ra bởi dịch bệnh và trận chiến giá dầu giữa Nga và Arab Saudi nhờ tập trung vào lĩnh vực khí tự nhiên. Một nguyên nhân khác giúp cổ phiếu Cabot tăng 21% tháng qua là nhờ chi phí vận hành thấp.

Một cái tên khác đang hưởng lợi từ "nền kinh tế corona" là Gilead Science, một công ty công nghệ sinh học khác cũng đang phát triển thuốc trị Covid-19 và nhà sản xuất khăn khử khuẩn Clorox. Cổ phiếu của cả hai lần lượt tăng 19,7% và 15,9% trong tháng rồi.

Cổ phiếu các công ty thực phẩm cũng đang cất cánh khi người Mỹ bắt đầu ở nhà và mua thực phẩm dự trữ. Kroger - một trong những chuỗi siêu thị lớn nhất Hoa Kỳ - đã chứng kiến cổ phiếu tăng 14,1%. Trong khi đó cổ phiếu của công ty sản xuất bơ và mứt đậu phộng The J.M Smucker đã tăng 8,7%, General Mills tăng 7,9% và Campbell Soup tăng 4,7%.

Tốp 10 cổ phiếu tốt nhất S&P 500 tháng qua cũng có công ty phần mềm và điện toán đám mây Citrix Systems (tăng 5,9%) và Digital Realty Trust (tăng 4%).

Ngoài ra danh sách cũng có các nhà bán lẻ như Walmart (2,5%), Walgreens (1,8%), Kellogg (3,6%), tập đoàn năng lượng WEC (1,6%), công ty dược Eli Lilly (1,5%) và công ty thực phẩm Hormel Foods (0,02%).

Trong số những cổ phiếu rớt giá mạnh nhất tháng qua, ngôi đầu thuộc về Norwegian Cruise Line, với mức trượt giảm 85% tính từ giữa tháng Hai. Các cổ phiếu du thuyền khác cũng đang trong tình trạng thê thảm tương tự khi đại dịch đang khiến ngành du lịch toàn cầu bị tê liệt, chẳng hạn như Royal Caribbean Cruises và Carnival Corp, với mức giảm lần lượt là 79,7% và 78,1%.
Trong khi thị trường dầu đang căng mình lên vì sức ép của dịch Covid-19 và chiến tranh giá dầu lên cả hai đầu cung - cầu, rất nhiều công ty dầu chứng kiến giá trị cổ phiếu trồi sụt theo biến động giá dầu hằng ngày. Cổ phiếu của Apache và Noble đều sâu hơn mức 84%. Các công ty dầu khí khác cũng không khác mấy khi giá trị cổ phiếu của Oneok giảm 80%, Diamondback giảm 79% và Halliburton giảm 78,7%.

Một nạn nhân khác của vi-rút corona là những doanh nghiệp vận hành sòng bạc như MGM Resorts với cổ phiếu giảm 77,5% và tình trạng thất thoát doanh thu nghiêm trọng.

Đứng chót trong danh sách 10 cổ phiếu giảm mạnh nhất tháng qua là Alliance Data Systems (giảm 77,5%). Nhà cung cấp dịch vụ khách hàng thân thiết này vốn đã rơi vào tình trạng lỗ trong suốt năm 2019.
READ MORE
Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019
no image

Những gì tôi hy vọng bạn có thể ghi nhớ sâu sắc nhất từ phần này bao gồm những điểm sau:
• Đừng đánh giá quá cao kỹ năng và trí khôn của những người chuyên nghiệp.
• Hãy tận dụng những điều bạn biết.
• Tìm kiếm những cơ hội chưa ai phát hiện ra hoặc chưa từng được phố Wall xác nhận - những
công ty “ngoài tầm kiểm soát”.
• Đầu tư vào một ngôi nhà trước khi đầu tư vào cổ phiếu.
• Đầu tư vào các công ty chứ không phải là thị trường chứng khoán.
• Phớt lờ những biến động ngắn hạn.
• Cổ phiếu thông thường có thể tạo ra lợi nhuận lớn.
• Cổ phiếu thông thường có thể đem lại tổn thất lớn.
• Dự đoán nền kinh tế là không hiệu quả.
• Dự đoán hướng đi ngắn hạn của thị trường cổ phiếu là vô ích.

• Thu nhập dài hạn từ cổ phiếu có thể dự đoán được tương đối và nó lớn hơn nhiều so với thu
nhập dài hạn từ trái phiếu.
• Theo đuổi một công ty mà bạn nắm cổ phiếu cũng giống như chơi một ván bài stud poker bất
tận.
• Cổ phiếu thông thường dành cho mọi người nhưng không phải là cho mọi giai đoạn của cuộc
sống con người.
• Một người bình thường biết đến các công ty và các sản phẩm địa phương hấp dẫn sớm hơn
các chuyên gia rất nhiều.
• Có một lợi thế sẽ giúp bạn kiếm được tiền nhờ cổ phiếu.
• Trong thị trường cổ phiếu một cổ phiếu chắc chắn bằng mười cổ phiếu không chắc chắn

READ MORE
Thứ Tư, 21 tháng 8, 2019
no image

Với tính cách chắc chắn, sợ rủi ro, tôi ban đầu đã xu hướng muốn đầu tư vào một ngành nào đó có tên tuổi hiện nay.

Ai cũng có điểm khởi đầu. Một trăm nghìn, một triệu đồng hay tiền tỷ thì cũng là đầu tư, cũng là khởi điểm, cũng là khó khăn.
Nhà đầu tư Vũ Văn Phong đã chia sẻ những kinh nghiệm anh học được trong quãng đời đầu tư của mình để những người mới bước chân vào thị trường chứng khoán không mắc phải những sai lầm giống anh.

Xin chào tất cả mọi người!
Tôi xin kể về hành trình chập chững bước chân vào thị trường chứng khoán của tôi. Với những kinh nghiệm thực tế mà tôi đã thực sự trải qua. Mặc dù không có nhiều kinh nghiệm như mọi người đăng bài ở đây, nhưng tôi cũng đúc rút ra được rất nhiều bài học quý báu cho chính bản thân mình.
Với địa vị là một sinh viên, nguồn vốn hạn chế nên việc đầu tư ban đầu là rất khó khăn.
Kinh nghiệm thứ nhất: Việc đầu tư lựa chọn cổ phiếu nào phụ thuộc rất nhiều vào tính cách của nhà đầu tư.
Vì vậy tôi, với tính cách chắc chắn, sợ rủi ro do vậy mà tôi ban đầu đã xu hướng muốn đầu tư vào một ngành nào đó có tên tuổi hiện nay. Và tôi còn chịu ảnh hưởng của ngành mà mình đang học. Do vậy nên tôi đã quyết định lựa chọn lĩnh vực Ngân hàng và lựa chọn đầu tư vào cổ phiếu CTG.
Kinh nghiệm thứ 2: Khi đầu tư nên xem xét kĩ về các chỉ số của công ty đã quyết định đầu tư.
Theo tôi đó là nhà đầu tư ngại rủi ro trong ngắn hạn nên xem xét về chỉ số P/E và chỉ số EPS. Chỉ số EPS thì nên cao( càng cao càng tốt) còn chỉ số P/E thì nên <10.
Kinh nghiệm thứ 3: Nên xem mức giá cổ phiếu mình chuẩn bị đầu tư có hợp lý không? Giá đang tăng hay đang giảm?
Đây là một kinh nghiệm mà tôi thấy quan trọng khi đầu tư. Đó là tôi khi mới đầu tư vào chứng khoán, với tâm lý “mình mua sao chẳng được”, nên tôi không quan tâm nhiều đến mức giá. Tôi không muốn cạnh tranh nên đặt mình vào tình thế lúc nào cũng có thể “mua đuổi”. Đó là một sai lầm.
Sai lầm thứ 2 là tôi không xem giá đang tăng hay đang giảm và đã bị đầu tư vào đúng lúc giá đang lên cao nhất. Đó là khi tôi đầu tư vào cổ phiếu IDI. Đến những phiên sau tôi xem thì nhận ra một điều rất hay là cổ phiếu này có một “đặc tính” – đó là một khi đã khớp lệnh ở dưới thì tất cả những lệnh sau cũng chỉ khớp ở dưới, nhiều lúc khiến tôi cảm thấy hơi “ức chế”. Ngoài các cổ phiếu mang tính chất đầu tư như FLC, HAI, … thì chưa bao giờ tôi thấy với 500.000 cổ phiếu được khớp mà giá vẫn đứng nguyên tại chỗ. Gần đây may mà có thông tin về ký hiệp định TPP nên giá cổ phiếu này cũng có tăng được đôi chút.
Còn khi đầu tư chúng ta cũng nên có sự so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành. Đó là khi tôi đầu tư vào CTG, nhiều lúc cũng cảm thấy hơi bực. Đó là một thời cổ phiếu này dựa quá nhiều vào khối ngoại. Có phiên khối ngoại không mua vào là cả phiên sang, cổ phiếu này chỉ khớp được khoảng chưa đến 100.000 cổ. Ngoài ra cổ phiếu này còn khác BID ở chỗ, đó là mức đặt lệnh lúc nào cũng tầm trên 100.000 cổ - thành mức “chặn trên, chặn dưới” nên cổ phiếu này đã “ít sóng” rồi lại càng không thể chạy được. Đó là lý do vì sao tôi lại thích đầu tư vào BID hơn.
Kinh ngiệm thứ tư: Đó chính là lưu ý thông tin.
Hiện nay gần đây nhất đó chính là các thông tin như ký hiệp định TPP , nới room cho khối ngoại, chủ tịch JVC bị bắt, giảm thời gian giao dịch T của CTCK, … Các nhà đầu tư nên lưu ý các thông tin để có thể lựa chọn danh mục đầu tư cho hợp lý.
Trên đây là những kinh nghiệm đầu tư tâm huyết nhất của tôi muốn chia sẻ cho những người mới bước vào “nghề”.
Vũ Văn Phong
Theo Trí thức trẻ
READ MORE
Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019
no image

[Quy tắc đầu tư vàng] “Ông vua của thị trường mới nổi” Mark Mobius vẫn sáng suốt ở độ tuổi 80 nhờ luôn đặt ra 2 câu hỏi cấp thiết trước khi đầu tư

Mark Mobius được mệnh danh là một trong những nhà đầu tư vĩ đại nhất của thế kỷ 20 tại Mỹ. Giới đầu tư vẫn gọi ông bằng cái tên thân quen là "ông vua của thị trường mới nổi"… Ông đặc biệt ưa thích thị trường Việt Nam.

Joseph Benhard Mark Mobius sinh ngày 17 tháng 8 năm 1936. Ông có cha là người Đức và mẹ là người Puerto Rico. Sau đó ông theo gia đình sang sinh sống tại Hempstead, New York. Cả tuổi thơ của Mobius trôi qua êm đềm dưới sự giám sát học hành từ người cha, ông đã bộc lộ năng khiếu học hành – nghiên cứu số học từ khá sớm.

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, ông đăng kí học tại Đại học Boston và nhận bằng tiến sĩ kinh tế tại MIT năm 1964. Trong thời gian làm tiến sĩ, ông đồng thời trải nghiệm du lịch nên đăng kí một vài khóa học ngắn hạn về đầu tư tài chính tại khắp mọi nơi trên thế giới: Đại học Wisconsin, Đại học New Mexico và Đại học Kyoto ở Nhật Bản.

Trước khi gia nhập Templeton, Mobius đã làm việc tại công ty chứng khoán quốc tế Vickers-da-Costa, và sau đó là chủ tịch của Công ty Ủy thác Đầu tư Quốc tế và được phân bổ phụ trách mảng thị trường chứng khoán tại Đài Loan. Chính tại nơi đây ông đã thể hiện được năng lực lãnh đạo và đầu tư tài ba của mình.

Năm 1987, Mobius gia nhập Templeton và nhận chức là chủ tịch điều hành của Tập đoàn Thị trường mới nổi Templeton. Tại Templeton, ông thành lập và chỉ đạo nhóm nghiên cứu chi tiết các thị trường chứng khoán, thời bấy giờ đang có sẵn trụ sở tại 18 văn phòng thị trường mới nổi toàn cầu và quản lý hơn 50 tỷ đô la trong danh mục đầu tư của thị trường mới nổi. Quỹ này định hướng phân bổ danh mục đầu tư vào các lĩnh vực như chuỗi nhà hàng, xây dựng, thực phẩm, dịch vụ, du lịch và logistics.

Năm 2015, sau khi lãnh đạo công ty được hơn một phần tư thế kỷ, Mark Mobius đã quyết định từ chức giám đốc điều hành của Ủy ban đầu tư thị trường mới nổi Templeton (TEMIT) và trao quyền kiểm soát quỹ cho Carlos Hardenberg. Năm 2018, Templeton tuyên bố quyết định nghỉ hưu của Mobius từ Franklin Templeton có hiệu lực từ ngày 31 tháng 1 năm 2018. Khi ấy ông đã gần 82 tuổi.

"Tôi thực sự chưa sẵn sàng nghỉ hưu và muốn trải nghiệm một thứ mới mẻ sau khoảng thời gian làm việc 30 năm với Quỹ Franklin Templeton Investments", Mobius phát biểu với kênh truyền hình Bloomberg.

Chưa đầy 4 tháng sau khi rời Quỹ Franklin Templeton Investments, Mark Mobius đã thành lập một quỹ quản lý tài sản mới để đầu tư vào các thị trường mới nổi. Mobius Capital Partners LLP, tên của quỹ, chưa có kế hoạch hợp tác với các nhà đầu tư bên ngoài và muốn huy động khoảng một tỷ USD trong 2-3 năm tới.

Kể từ cuối 2014, Mobius đã quyết định nhắm tới thị trường Việt Nam, khẳng định thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường quan trọng nhất trong những thị trường mới nổi mà ông quan tâm và rót tiền đầu tư.

Nhà đầu tư huyền thoại và năng động dự định sẽ quản lý một danh mục đầu tư cô đặc gồm khoảng 40 cổ phiếu. Dự định của quỹ là tham gia đầu tư vào 1 số thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, châu Mỹ Latin và tất nhiên không thể thiếu Việt Nam.

Các cổ phiếu Việt Nam được Mobius ưa thích theo ông bật mí thường là những doanh nghiệp đầu ngành tiêu dùng, sản xuất và dược phẩm của Việt Nam… Chủ yếu đều là những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh của mình và hầu hết là những cổ phiếu đã hết room ngoại.

Trong giai đoạn thời kì trải dài lịch sử thị trường, khi chỉ số S&P 500 của thị trường chứng khoán Mỹ đã hai lần mất gần 50% giá trị thế nhưng lần thiệt hại lớn nhất của ông chỉ mất chưa tới 12%. Tuy nhiên hiệu suất sinh lời lại lên tới gần 20% đều đặn trong suốt chu kỳ đầu tư của ông. Qua những thăng trầm của thị trường, ông thừa nhận mình chính là người hết sức kiên nhẫn và luôn tự đặt ra 2 câu hỏi trong đầu mỗi khi bắt tay vào một phi vụ đầu tư.

Hai câu hỏi thường trực đó được ông chia sẻ trên Bloomberg như sau:

1.Thế nào là một nhà đầu tư thật sự?

Theo Mobius, nhà đầu tư thật sự ít khi bị buộc phải bán những cổ phần của mình, và vào tất cả các thời điểm khác thì anh ta hoàn toàn không cần phải quan tâm tới giá niêm yết hiện tại.

Nhà đầu tư chỉ cần hành động trong chừng mực phù hợp với sự thay đổi giá trị cơ sở của doanh nghiệp, và không cần hơn. Do vậy, nhà đầu tư nào mà để mình bị bấn loạn hay lo lắng quá đáng vì những lần giảm giá thị trường một cách vô lý với những cổ phần của mình, thì anh ta đang biến lợi thế cơ bản của mình thành bất lợi cơ bản một cách tai hại.

Khi thị trường sụt giảm, cổ phiếu nắm giữ trượt dài, sẽ là thua lỗ thật sự nếu nhà đầu tư chuyển từ khoản lỗ trên lý thuyết thành thực tế. Mặc dù giá giảm, tài sản bốc hơi không lý do, nhưng một khi giá trị cơ sở của doanh nghiệp vẫn tốt thì nhà đầu tư nên giữ vững niềm tin để không bị cuốn theo đám đông.

Sẽ tốt hơn đối với nhà đầu tư, nếu chứng khoán của anh ta không hề có báo giá thị trường. Lúc đó, nhà đầu tư sẽ thoát khỏi sự đau khổ tâm lý gây ra từ những sai lầm trong đánh giá của người khác.

Tóm lại, các dao động về giá và thị trường chỉ có một ý nghĩa đáng chú ý với nhà đầu tư thực thụ. Những lần dao động thị trường, lớn hay nhỏ và tăng hay giảm, sẽ tạo cơ hội cho nhà đầu tư mua rẻ bán đắt.

Còn vào những lúc khác, sẽ tốt hơn cho mọi nhà đầu tư nếu anh ta tập trung vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Đôi khi trên thị trường xảy ra tình hình kết quả kinh doanh năm của doanh nghiệp khá sáng sủa, trong khi một số cổ phiếu giá của chúng lại rơi vào vòng xoáy giảm chung. Đâu đó, nhà đầu tư thông minh nhìn vào đây và thấy cơ hội. Như một câu nói nổi tiếng, "Hai người cùng nhìn ra song cửa nhà tù, một người nhìn thấy bùn đen, còn người kia thấy những vì sao".

2. Đối diện như thế nào khi thị trường chứng khoán lao dốc?

Khi nào chứng khoán ngừng rơi? Thị trường chứng khoán khi nào trở lại và rằng đâu là điểm đáy của thị trường? Chính Mobius cũng không giỏi dự đoán những điều này.

Nhưng ông chắc chắn rằng sẽ không để bản thân lo lắng quá mức đến những diễn biến ở cả trong và ngoài nước. Thay vì chăm chăm nhìn vào những khía cạnh thông tin bên ngoài doanh nghiệp, ông dồn mọi sự tập trung để phân tích giá trị nền tảng của cổ phiếu mà ông đã sở hữu, và xem có nên tiếp tục giữ chúng hay không.

Thực tế, ông cho rằng thị trường luôn biến động, suy giảm như một cơ hội tuyệt vời để nâng cấp, "mua vào" chất lượng cổ phiếu mà ông đang sở hữu. Đồng nghĩa việc thay thế các cổ phiếu yếu nhất trong danh mục bằng các cổ phiếu mới tốt hơn.

Những cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng tốt thường được bán với mức giá cao tương đương lúc thị trường ổn định. Nhưng với thị trường đang hoảng loạn, cổ phiếu bluechip nằm "sàn", đây sẽ là cơ hội để có được chứng khoán chất lượng với giá "bèo".
READ MORE
no image

 [Quy tắc đầu tư vàng] James Simons –Từ thiên tài toán học trở thành tỉ phú đầu tư nổi tiếng nhất phố Wall có tỷ suất lợi nhuận đến Soros, Buffett cũng phải dè chừng
Thật đáng kinh ngạc khi chứng kiến một nhà toán học nổi tiếng lại chuyển hướng và đạt được những thành tựu lớn như vậy trong ngành tài chính..
[Quy tắc đầu tư vàng] James Simons –Từ thiên tài toán học trở thành tỉ phú đầu tư nổi tiếng nhất phố Wall có tỷ suất lợi nhuận đến Soros, Buffett cũng phải dè chừng

James Harris Simons (sinh ngày 25 tháng 4 năm 1938) là một nhà toán học người Mỹ, nhà quản lý quỹ phòng hộ tỷ phú và nhà từ thiện. Sinh trưởng trong một gia đình gốc Do Thái, Simons khởi nghiệp bằng con đường học thuật, khi theo đuổi Toán học ở bậc đại học và nhận bằng Tiến sĩ cũng với ngành Toán.

Sau khi tốt nghiệp, ông có nhiều năm giảng dạy bộ môn Toán học tại Đại học Massachusetts và Harvard. Năm 1964, ông tham gia cộng tác tại Viện Phân tích Quốc phòng (Institute for Defense Analyses), công việc chính phân tích dữ liệu và giúp giải mã truy lùng các mối đe dọa quân sự tiềm năng cho Cục An ninh Quốc gia (National Security Agency). Năm 1976, ông thắng Oswald Veblen Prize, giải thưởng danh giá nhất về lĩnh vực hình học của Hiệp hội Toán học Mỹ.

Ông cũng từng giành giải Oswald Veblen của Hiệp hội toán học Mỹ. Nhưng chỉ 2 năm sau, vào năm 1978, ông rời bỏ con đường học thuật và bắt đầu công việc đầu tư, với nhiều ứng dụng từ chính những nghiên cứu toán học trước đây của mình.

"Thật đáng kinh ngạc khi chứng kiến một nhà toán học nổi tiếng lại chuyển hướng và đạt được những thành tựu lớn như vậy trong ngành tài chính", giáo sư Edward Witten tại Viện nghiên cứu nâng cao Princeton, một cộng sự trong khoa học của Simons đã từng nhận xét.

Năm 1982, Simons thành lập Renaissance Technologies, một quỹ đầu tư khởi nguồn tại New York và quản lý nguồn vốn khổng lồ vào thời điểm đó, trên 20 tỷ USD. Ngày nay, ở độ tuổi 71, ông vẫn là CEO của hãng, và đây vẫn là quỹ đầu tư đa quốc gia thành công bậc nhất trên thế giới.

Trong năm 2008, khi thị trường tài chính thế giới lâm vào khủng hoảng và phần lớn quỹ đầu tư lớn thua lỗ, quỹ đầu tư Renaissance Technologies của ông vẫn thu thêm về 2,5 tỷ USD lợi nhuận. Trước đó, năm 2007 là 2,8 tỷ USD. Với tổng tài sản cá nhân hiện tại vào khoảng 5,5 tỷ USD, vị tỷ phú này được tạp chí Forbes xếp hạng giàu thứ 55 tại Mỹ. Năm 2006, ông được tạp chí Time bình chọn là tỷ phú thông thái nhất thế giới.

Tính tới hiện tại, quỹ đầu cơ của ông đã đạt lợi nhuận đạt được gần 60 tỷ USD trong vòng 30 năm. Theo thống kê gần nhất, tổng lợi nhuận của quỹ mang lại còn cao hơn so với các quỹ đầu tư của những tỷ phú nổi tiếng như George Soros hay Ray Dalio, Warren Buffett dù quản lý khối tài sản ít hơn và thời gian đầu tư cũng ngắn hơn.

Trong gần 30 mươi năm điều hành quỹ đầu tư, Simons sử dụng các thuật toán để phân tích các thị trường giao dịch, trong đó nhiều phần được làm tự động. Renaissance của ông chuyên sử dụng các mô hình toán học để dự báo giá cổ phiếu trên các thị trường khắp thế giới.

Hãng quản lý quỹ này cũng có bộ máy nhân sự khác biệt so với tất cả quỹ đầu cơ khác trên thế giới, bởi nó bao gồm tập hợp các nhà khoa học và chuyên gia nghiên cứu, đặc biệt là toán học.

Simons đề ra tiêu chí để tuyển dụng là những người có năng lực đã được thừa nhận về nghiên cứu khoa học, để thực hiện các mô hình toán học về những thị trường mà quỹ đầu tư. Rất nhiều nhân sự của hãng này bước thẳng từ phòng nghiên cứu của các hãng công nghệ như IBM hay Bell sang quỹ, mà chưa hề có kinh nghiệm về thị trường tài chính. Và kết quả, như đã được thực tế chứng minh, và như chính ông chủ quỹ Simons nhận xét là hơn cả mong đợi.

Simons cũng là một nhà hoạt động xã hội tích cực. Ông và vợ thành lập Quỹ Paul Simons, một tổ chức từ thiện chuyên hỗ trợ các dự án giáo dục, y tế, đặc biệt là bệnh tự kỷ ở trẻ nhỏ, và nghiên cứu khoa học. Ông cũng có nhiều hoạt động từ thiện khác trên danh nghĩa 2 người con trai quá cố của mình. Tính đến nay Simons đã chi hàng chục triệu USD cho các hoạt động từ thiện và dự kiến dành thêm 200 triệu USD trong các năm tới.

[Quy tắc đầu tư vàng] James Simons –Từ thiên tài toán học trở thành tỉ phú đầu tư nổi tiếng nhất phố Wall có tỷ suất lợi nhuận đến Soros, Buffett cũng phải dè chừng - Ảnh 1.
Bí quyết thành công của Quỹ Renaissance đã khiến rất nhiều nhà đầu tư tò mò, tuy vậy ông hiếm khi tiết lộ thông tin với báo giới và những nhân viên được lệnh cấm thảo luận về hệ thống làm việc tối mật trong công ty. Gần đây nhất trong một bài phỏng vấn với Forbes, mặc dù không tiết lộ nhiều về hệ thống riêng của ông nhưng Simons cũng đã mở rộng lòng chia sẻ một số kinh nghiệm đầu tư cho những nhà đầu tư mới:

1. Cố gắng xây dựng một hệ thống giao dịch phù hợp với phong cách của bản thân. Một hệ thống giao dịch phù hợp chính là biên bản thỏa thuận được kí kết giữa nhà đầu tư và thị trường.

2. Một cổ phiếu khi đã thực sự bước vào sóng uptrend, nó sẽ tăng giá trong khoảng thời gian từ 2 tháng trở lên thậm chí tới 6-8 tháng, chính vì vậy nhà đầu tư không việc gì phải vội vàng nếu nó chỉ vừa mới tăng.

"Nhỡ nó tăng mất thì sao" là nỗi sợ của rất nhiều nhà đầu tư chứng khoán. Lý do là họ chưa phân biệt được đâu là cổ phiếu tăng thực sự - đâu là cổ phiếu "ăn theo". Một cổ phiếu tăng thực sự chí ít sẽ tăng từ 2 - 6 tháng thậm chí dài hơn. Còn một nhịp tăng của cổ phiếu ăn theo thì chỉ tầm 2 - 3 tuần là kết thúc. Việc mua đúng cổ phiếu hàng đầu vào sóng tăng thì dù có mua muộn cũng lãi 20 - 30% là chuyện bình thường trên thị trường cổ phiếu.

3. Đừng quá tự tin

Qua những giao dịch, ông đã học được một điều trên thị trường, đó là đám đông điên loạn, thường sẽ phi lý trí và khi họ bị cảm xúc lấn át, đó là lúc họ luôn luôn phạm phải sai lầm.​

Ông cũng nói rằng sự thông minh mà bạn có được nếu không rèn luyện học hỏi mà đem nó đi chiến đấu với thị trường ngay tức khắc vốn là một điều vô cùng sai lầm. Bạn quá tự tin khi vào lệnh, bạn đặt bạn vào rủi ro vì cái tôi của mình và chắc chắn bạn sẽ tiếp tục mất tiền. Đừng quá tự tin, hãy chăm chỉ học hỏi, rèn luyện ắt đầu tư sẽ có ngày thành công.

4. Mua tại lần điều chỉnh đầu tiên (first pullback) sau khi giá thiết lập đỉnh cao mới. Bán ngay sau lần hồi phục đầu tiên (first rally) sau khi giá tạo đáy mới.

5. Nếu thị trường đang mạnh lên hay yếu đi, nó phải được thể hiện đà ở ngày tiếp theo (ví dụ phải có ngày bùng nổ theo đà (follow through) sau phiên tăng giá mạnh).

6. Các khoảng trống (Gap) xuất hiện càng rộng (lớn), khả năng cao xu hướng sẽ tiếp diễn.

7. Khi thị trường giao dịch ở quay đỉnh hoặc đáy của ngày hôm trước là chỉ báo tốt cho thấy thị trường đang mạnh lên hay yếu đi.

8. Giao dịch cuối cùng thường nói cho chúng ta biết sự thật về xu hướng hiện tại. Dòng tiền "thông minh" thường ra tay vào giờ giao dịch cuối cùng. Khi thị trường vẫn còn đóng cửa tăng giá mạnh, xu hướng tăng sẽ còn tiếp diễn trong phiên tới. Khi xu hướng tăng giá kết thúc, nó thường đảo chiều vào buổi sáng và sau đó, giá đóng cửa cuối phiên sẽ giảm.

9. Khối lượng giao dịch lớn vào lúc đóng cửa hàm ý xu hướng sẽ tiếp tục vào buổi sáng tiếp theo hướng cửa nửa giờ giao dịch cuối cùng. Trong thị trường có xu hướng mạnh, hãy quan sát khả năng giá sẽ quay trở lại xu hướng chính ở giờ giao dịch cuối cùng.

10. Thế giới tài chính được tạo ra bởi hành vi con người. Không ai có thể biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó nhà giao dịch thành công không phải là người dự đoán điều gì sắp diễn ra mà phải biết phản ứng như thế nào với mọi tình huống.

READ MORE