Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2020
no image

Khi đã trở thành một thạc sĩ trên đất Úc, Hương thầm biết ơn những ngày làm ô sin cho nhà chủ. Đơn giản vì trải nghiệm nào trong đời cũng đáng quý và có những sự khắc nghiệt khiến mình học hỏi được rất nhiều và trưởng thành rất nhanh.

Chuyện chưa kể về cô gái Việt từng làm ô sin, ngủ gầm cầu thang trở thành thạc sĩ trên nước Úc - Ảnh 1.

12 tuổi, Đặng Thị Hương (sinh năm 1986, quê Vĩnh Phúc) nghỉ học rời quê lên Hà Nội làm ô sin cho một gia đình trẻ. Công việc chăm em bé và quán xuyến việc nhà từ 6h sáng đến 12h đêm đem lại cho Hương số tiền 150.000 đồng mỗi tháng. Với đồng lương ít ỏi này, Hương mơ ước sẽ nuôi anh trai và em gái học xong, hỗ trợ tiền chữa bệnh cho mẹ.

Hương không ngờ, đó chỉ mới là chương đầu tiên mở ra cuộc đời nhiều thăng trầm của mình. Sau này, cô còn có nhiều ước mơ lớn hơn thế nữa.

Cô bé đem nhẻm, gầy gò năm nào không ngờ những ngã rẽ cuộc đời lại đưa mình đi xa thế!

17 tuổi, Hương nghỉ công việc ôsin, đi học lại lớp 8 ở một trung tâm giáo dục thường xuyên ở Hà Nội. Cô thuê được gầm cầu thang một khu ổ chuột vừa kê đủ cái giường gãy chân để ngủ. 2 giờ sáng Hương thức dậy thổi xôi. Sáng bán xôi, rồi đi lau nhà thuê, chiều đi bán bánh khoai, bánh ngô, tối học xong lại bán bánh đến nửa đêm. Việc quá nhiều nên mỗi ngày Hương chỉ vẻn vẹn 2 tiếng được ngủ.

Sau chuỗi ngày làm đủ mọi nghề để được đi học bổ túc, Hương biết đến KOTO - một doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận, chuyên đào tạo nghiệp vụ nhà hàng, khách sạn cho trẻ đường phố.

Chuyện chưa kể về cô gái Việt từng làm ô sin, ngủ gầm cầu thang trở thành thạc sĩ trên nước Úc - Ảnh 3.

Cô nộp đơn và được nhận vào và đây cũng là nơi thay đổi cuộc đời cô và tạo nên Hương hôm nay. Sau 18 tháng học tại KOTO, Hương được làm tại khách sạn Inter Continental Hồ Tây, rồi quay về làm nhân viên KOTO với mong muốn được đồng hành với các trẻ em từng như Hương. Năm 2012, Hương lên đường du học Úc sau khi giành được một suất học bổng.

Khi đã trở thành một thạc sĩ trên đất Úc, Hương thầm biết ơn những ngày làm ô sin cho nhà chủ: "Có những sự khắc nghiệt khiến mình học hỏi được rất nhiều và trưởng thành rất nhanh. Đơn giản như việc chị từng sống với bà chủ nhà cực kì khó tính, làm gì cũng phải làm cho thật tốt. Từ đó, chị cũng rèn giũa được mình.

Hoặc, kỹ năng nấu ăn hay niềm vui với ẩm thực, chị cũng được tôi luyện qua rất nhiều người chủ kỹ tính khác. Việc rửa một cái cốc thế nào là sạch hay cuốn nem như nào cho ngon, rửa cá thế nào cho không quá tanh... Tất cả những thứ đó, chị đều học được từ hồi đi làm ô sin. Nó cũng là thứ vốn liếng đáng quý của chị. Những bài học được tôi luyện trong hà khắc có mùi vị mặn chát nhưng lại là hành trang khiến mình vững bước vào đời".

Khi hỏi Hương, nếu như ngày đó chị không cố chấp giữ lấy cái khao khát học tập, thì hôm nay chị nghĩ mình đã ở đâu và như thế nào?

Hương trầm ngâm một lúc rồi đáp: "Cũng thật khó, bản thân chị cũng từng đặt câu hỏi như vậy và chưa bao giờ có câu trả lời. Chị nghĩ, đó là một sự may mắn dựa trên nỗ lực và chữ duyên. Giống như chuyện ở nột vùng quê nghèo lại có một bé gái thích đọc sách như chị, hay bỗng dưng một ngày chị phải nghỉ học và lên thành phố kiếm sống. Nếu ngày đó mọi thứ không xảy ra theo cách tệ nhất thì chưa hẳn đã dẫn đến một cái kết đẹp. Mọi con đường đi đều khác nhau và đích đến cũng không hề giống nhau nên chúng ta chỉ biết tuân theo quy luật cuộc sống và nỗ lực hết mình mà thôi".

Hương không nghĩ mình nhìn xa trông rộng hơn bạn bè đồng trang lứa khi sớm nhận được giá trị của việc học để quyết tâm theo đuổi nó đến cùng, dẫu có đang là một cô bé ô sin đi chăng nữa.

Sự ham học hỏi đến với Hương rất tự nhiên như cách mà những người trẻ thế hệ 8X say mê với những kiến thức mới, công trình nghiên cứu, kiếm cơ hội du học bằng chính sức của mình... Đó chính là nguồn cảm hứng giúp Hương tiếp tục nuôi dưỡng hoài bão học vấn, ngay cả khi đã đạt được một số thành quả nhất định.

Ai nhìn vào cuộc sống của Hương cũng nghĩ cuộc đời cô dẫu khó khăn nhưng so ra với nhiều người khác vẫn "màu hồng" chán. Khó khổ lúc đầu, khúc sau sướng như "cổ tích" thế này ai cũng chịu. Nhưng bạn đừng tùy tiện phán xét người khác bằng những gì bạn nhìn thấy. Ai cũng có những góc khuất mà đã là góc khuất thì không dễ gì nhìn thấy được.

Cuộc đời Hương không "cổ tích" lắm đâu! Có thể những gì Hương đạt được là mơ ước của nhiều người từng ở vào hoàn cảnh như cô. Nhưng đâu ai hiểu, để có những kết quả thành hình ấy là biết bao khó khổ, sự hi sinh vô hình mà chỉ có Hương biết.

Mới 31 tuổi đời song những thăng trầm mà Hương đi qua có lẽ đã gấp đôi người cùng trang lứa. Mỗi lần va vấp và gặp biến cố, cô gái nhỏ tự nói với mình "Hương ơi, thôi xong" nhưng chẳng biết lấy đâu ra động lực cô lại gượng đứng dậy bước tiếp.

Có lần Hương bị hại ở Hà Nội, cô nghĩ mình không vượt qua được, nhưng rồi cũng qua. Đúng chiều 30 Tết năm 2008, Hương và anh trai bị tai nạn. Cô từng nghĩ đó là điều khủng khiếp nhất trong đời, nhưng rồi đâu lại vào đấy. Ba tháng trước khi Hương bắt đầu chương trình học thạc sĩ ở Úc, anh trai đột ngột qua đời.

Khi ấy, mọi khó khăn về tài chính và nỗi tuyệt vọng vì mất đi người thân khiến cô gái nhỏ trở nên chênh vênh. Hương nghĩ mình sẽ gục ngã, nhưng rồi mọi chuyện cũng được xếp lại theo trật tự của nó, dù mọi thứ chẳng thể như trước nữa.

Chuyện chưa kể về cô gái Việt từng làm ô sin, ngủ gầm cầu thang trở thành thạc sĩ trên nước Úc - Ảnh 4.

"Không phải chị mạnh mẽ đâu, chị cũng chỉ là cô gái bình thường, cũng yếu đuối bên trong và tỏ ra cứng rắn bên ngoài. Mỗi lúc khó khăn chị nghĩ cứ ngồi đó mà buồn chán, dẫn tới trầm cảm thì ai lo cho mẹ và cháu chị? Từ đó, chị chuyển hóa nỗi buồn thành yêu thương, chị đọc sách của thầy Thích Nhất Hạnh nhiều hơn mỗi ngày, chị học thiền, tập thở, chị bắt đầu trồng những cây hoa. Mùa xuân sau đó, nó đã nở hoa. Cho đến tận bây giờ, năm nào chị cũng được ngắm hoa mình trồng đơm bông, từ những ngày chị vẫn ngồi đợi nắng.

Chị nghĩ nỗi buồn thì có thể vẫn còn đâu đó nhiều lắm, nhưng mình chọn cách đối mặt và chuyển hóa cảm xúc. Quan trọng hơn cả, mình hãy xem những điều kém may mắn xảy ra là chuyện tất yếu trong cuộc sống, ở đâu đó vẫn có nhiều người gặp phải tình cảnh giống như mình, chỉ là họ có nói ra hay không mà thôi", Hương chia sẻ.

Khi có cơ hội ra nước ngoài học tập, tiếp xúc với nhiều người, Hương mới có đủ điều kiện để so sánh những kiến thức cô học được từ trường lớp, trường đời với những lời mẹ dạy.

Những lời mẹ dạy sau lũy tre làng là những bài học làm người giản dị, nhưng nó lại là hành trang quý theo Hương trên mỗi chặng đường dài. Mẹ bảo chị cứ lấy tâm làm cốt lõi, mọi cái sẽ dung hòa, chuyện thật to thì sẽ trở nên nhỏ và nhỏ thì có thể không còn.

Mẹ dạy Hương tính chịu đựng cao, khiêm nhường và làm việc chăm chỉ. Nhờ đức tính đó, cô bé 12 tuổi năm nào mới không bị "lạc đường" khi sống một mình ở Hà Nội nhiều cám dỗ. Lời răn dạy ấy cũng là thứ "vốn liếng" quý giá Hương mang sang Úc để sống qua quãng thời gian sinh viên thú vị, nhiều thách thức và đầy trải nghiệm. Cuộc đời cho cô gái trẻ nhiều đòn đau hơn. Cô dần nhận ra, không phải điều gì mẹ dạy cũng giống với ngoài đời. Tuy nhiên, ở khía cạnh nào đó nó vẫn có ý nghĩa rất lớn với mình.

Khi gặp người tốt, Hương thấy những bài học của mẹ thật đúng. Nhưng lúc gặp người xấu, khi những chuyện không hay ở đời xảy đến với mình... cô vẫn còn những bài học của mẹ, những giá trị cốt lõi để dựa vào.

Hương có một kỷ niệm đáng nhớ thế này: "Khi sang Úc học đại học, chị sợ nhất môn Kinh tế. Giáo sư của chị cũng biết điều đó. Một lần, chị trả lời được hết câu hỏi của thầy, thầy hỏi ai dạy chị những điều này, chị nói hồi bé sống ở quê, mẹ chị làm như vậy. Thầy bảo chị hãy gọi điện về nhà cảm ơn mẹ vì mẹ chị chính là nhà Kinh tế học tuyệt vời của chị. Bữa đó, chị tự hào lắm. Ai mà nghĩ những bài học giản dị của mẹ ra đời lại hữu ích vậy!".

Thỉnh thoảng vẫn có người đọc các bài viết về Hương rồi trêu cô là người "nổi tiếng". Hương trêu lại "tai tiếng" thì có!

"Khi kể câu chuyện của mình, ngoài những lời khích lệ động viên, chị cũng nhận được không ít gạch đá. Với chị, gạch đá hay khen chê đều không quan trọng.

Một ngày đẹp trời, chị quyết định kể câu chuyện của mình và mặt chị xuất hiện dày đặc trên báo. Có người không hiểu thì sẽ cho là chuyện bịa hoặc kiểu "kể khổ". Chị thì rất ngại việc phải kể những điều "con nhà nghèo vượt khó" vì nghèo thì Việt Nam mình thiếu gì, và các bạn học giỏi hơn chị thì chắc chắn là cũng có rất nhiều.

Nhưng chị kể ra câu chuyện của mình với mong muốn giúp ích phần nào cho những người trẻ để họ tìm thấy động lực khi lạc bước hay đứng giữa ngã ba đường không biết đi đâu, làm gì. Nhưng chị kể câu chuyện của mình không phải là muốn các bạn phải giống như chị. Thế thì còn gì đặc biệt!

Chị chỉ có một mong muốn đơn giản là chia sẻ từ những trải nghiệm thật nhất của mình sẽ giúp cho ai đó có thêm thông tin về thế giới ngoài kia. Các bạn sẽ không ngồi ì một chỗ chờ cơ hội tới. Và quan trọng là để các bạn biết yêu bản thân mình, sống vui vẻ và đầy nhiệt huyết, từ đó mới yêu được cộng đồng", Hương nói.

Năm 2012, Hương xin được học bổng du học Úc. Cô chọn ngành Quản trị kinh doanh tại học viện Box Hill (Úc) vì muốn được thử sức một ngành mới.

Trong quá trình học tập, cô gái Việt có xuất phát điểm còn nhiều hạn chế nhận được nhiều giải thưởng lớn như "Sinh viên quốc tế xuất sắc năm 2013 bang Victoria" và "Sinh viên quốc tế xuất sắc của năm 2013" do Thủ hiến bang Victoria Denis Napthine trao tặng.

Tháng 6/ 2016, Hương một trong 61 người trẻ trên toàn thế giới trúng tuyển vào chương trình học ngắn hạn của Massachusetts Institute of Technology - Mỹ cho chương trình "MIT Global Entrepreneurship Bootcamp".

Cô và 250 bạn trẻ trên thế giới được lựa chọn cho chương trình UNCTAD Youth Forum in Nairobi, Kenya (Diễn đàn Trẻ của United Nation Conference on Trade and Development tại châu Phi).

Tháng 5 năm 2017, Hương là một trong 10 đại diện Việt Nam tham gia chương trình Lãnh Đạo Trẻ Việt Úc được tổ chức tại Sydney.

Sau khi tốt nghiệp học viện Box Hill, Hương đã lấy thêm bằng thạc sĩ Quản Trị Kinh Doanh và Đổi Mới tại trường Đại Học Công Nghệ Swinburne. Và làm Business Analyst cho một công ty IT có trụ sở tại Melbourne. Ngoài ra, cô còn phụ trách mảng "Nhà tài trợ học viên" của KOTO với vai trò là một tình nguyện viên trong suốt 5 năm sống tại Úc.

Đang có một cuộc sống tốt và công việc tốt ở xứ sở Kangaroo, Hương bỗng dưng quyết định trở về Việt Nam để làm việc toàn thời gian cho KOTO vì chị tin rằng những giá trị và đam mê của mình luôn phù hợp với KOTO nhất.

Hiện tại Hương đang là Trưởng Phòng Quan Hệ Và Đối Tác Quốc Tế cho KOTO Việt Nam, chuyên phụ trách mảng gây quỹ, sự kiện, nhà tài trợ và các hoạt động đối ngoại.
READ MORE
Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020
no image

Đặng Sơn

4-7-2020

Có vẻ mọi người đang nhầm. Mình kí tên vào Bản kiến nghị yêu cầu xem xét lại khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ không phải là để cứu khu dự trữ sinh quyển số 1 Việt Nam này. Xét đến bối cảnh người dân Saigon có vẻ như đang theo dõi và cổ động cho cơn sốt bất động sản ở Cần Giờ hơn là nghĩ đến tương lai của lá phổi xanh này, thì không việc gì phải mất công để save nó cả.


Không khí Saigon đã ô nhiễm trầm trọng lắm rồi, giờ ô nhiễm thêm tí cũng chả sao. Kẹt quá thì ta di cư sang nước khác sạch hơn.

Thật ra, mục tiêu của mình là để Save Vượng.

Mình mới xem được báo cáo địa chất khu Cần Giờ. Mũi khoan đến độ sâu 100m chỉ toàn bùn cát, bùn chảy và đất sét. Ở độ sâu 200m thì được cho là có 1 lớp đá trẻ. Đá trẻ rất khác đá già. Cả 1 vùng địa chất cửa sông Cần Giờ có thể nói là mềm nhoẹt ra, và có độ biến động rất phức tạp.

Nếu chỉ phát triển 1 dự án tầm 600ha ven bờ theo kế hoạch cách đây 20 năm, bao gồm chia lô biệt thự mặt biển thấp tầng, nhà trên cọc, resort mật độ xây dựng cực thấp thì khá là hợp lý. Đằng này lại phình to ra lấn biển đến gần 2.870ha để chứa 230.000 người. Muốn có đủ lượng cát san lấp gần 137,6 triệu m3 cát này, kế hoạch ban đầu của Vin sẽ là khai thác tại các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long. Điều này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến sự tan rã và xói lở của khu vực này. Nên khả năng cao là Vin chuyển sang phương án 2: hút vật chất từ khu biển nhân tạo ở giữa lòng dự án để san nền.

Để làm được điều này, Vin cần phải tiến hành xây dựng 2 lớp siêu đê dài tầm 23-35km bọc cả vành ngoài lẫn vành trong khu biển nhân tạo để cố định lớp địa chất nhão nhoét này. Các lớp siêu đê này cùng lắm là cắm được móng vào lớp đá trẻ. Khi hút lớp bùn cát sình lầy nơi đây, những biến động rộng khắp trên toàn khu vực là rất khó tiên đoán. Xây thì được, nhưng hết sức rủi ro và siêu tốn kém.

Sau đó, họ sẽ cắm 1 lượng cao ốc khá khá vào đây. Bạn hãy tưởng tượng tải trọng của 30-40 nhà cao tầng-hàng trăm chung cư-hàng nghìn biệt thự sẽ thúc đẩy cho tốc độ lún của toàn khu tăng nhanh. Với tốc độ lún 5-10cm/ năm, sau 10-20 năm, khu đô thị này dù có được tôn nền thì sẽ lún xuống ngang luôn mặt nước biển Atlantic là 1 viễn cảnh không có gì hay ho cho lắm.

Đấy là chưa nói đến mực nước biển đang dâng cao theo 1 tốc độ rất bất thường. Bao nhiêu dự báo đều không đúng nữa.

Nhiều người bảo có tiền thì làm được tuốt, công nghệ bây giờ hiện đại lắm. Ukie, vậy mời bạn đọc lại phân tích của mình về công nghệ xây dựng của Vin ở đây.

Dự án này của Vin chứa rất nhiều tham vọng lẫn khát vọng. Nhưng tóm lại 1 câu thì đó là người anh hùng chống trên đôi chân đất sét.

Tư duy cốt lõi của dự án này xoay xung quanh 1 thứ chủ nghĩa hiện đại đã lỗi thời, mơ về 1 thứ tương lai lạc hậu, và kiên quyết bằng mọi giá đập đá vá trời, đem tiền đổ sông đổ bể chế ngự thiên nhiên. Làm 1 biển nước mặn giữa đồng lúa Hà Nội, cho đến xây siêu nhà kính trồng hoa tulip ở đảo Hòn Tre – Nha Trang thì cũng chỉ hơi ngớ ngẩn. Nhưng chọc đô thị cao tầng vào lớp bùn thì là 1 sai lầm nghiêm trọng. Đội nào tư vấn dự án này thế nhờ, xúi cho người khác sa lầy.

Dự án lấn biển 14 tỉ đô của Dubai đã thất bại về mọi mặt. Nhẽ không sang đấy mà học?

Nói đến đây đã dài, thôi thì mời mọi người cùng nhau góp chữ kí để Save Vượng tại đây các bạn nhé!

Lãng mạn và mơ mộng, tinh thần chấp nhận hiểm nguy và máu phiêu lưu phải nói là hiếm thấy trên thế gian, mình thích.
READ MORE
no image

Nhã Duy

4-7-2020

Nếu bất chợt hỏi một người Mỹ bình thường nào đó câu hỏi rằng: “Những giá trị Mỹ trong con người và văn hóa của bạn là gì”, ắt họ sẽ có phần lúng túng hay không diễn đạt trọn vẹn. Bởi phần lớn người Mỹ tin rằng, mỗi cá nhân là chủ thể riêng biệt, có những giá trị, niềm tin và hành xử khác nhau. Mặt khác, họ sống một cách tự nhiên với những giá trị này nên có thể không chú tâm cho câu trả lời mang tính hệ thống và đầy đủ.

Nhưng dẫu có khác biệt thế nào với mỗi cá nhân thì người Mỹ cũng có một số giá trị khá chung theo cách họ đã được hấp thụ và sống theo nền văn hóa của mình. Một cách ý thức hay vô thức. Nhân kỷ niệm lễ Độc Lập Hoa Kỳ, chúng ta thử xem lại những giá trị cốt lõi đó là gì? Và chúng liên quan hay khác biệt gì với cộng đồng gốc Việt tại Mỹ?

Giá trị đầu tiên có thể kể là quyền tự do cá nhân mà người Mỹ cổ súy và tôn trọng. Được bảo vệ bằng hiến pháp, người Mỹ có xu hướng suy nghĩ, nói và hành động theo chọn lựa của mình. Họ có những lối sống rất riêng biệt, từ trong thời trang, thị hiếu cho đến các thói quen, hành xử hàng ngày nên sẵn sàng bảo vệ, phản kháng một khi họ tin rằng những quyền tự do cá nhân này bị xâm phạm. Đó là lý do mà những quyền tự do mang tầm vóc lớn hơn như tự do ngôn luận và tự do báo chí là điều rất quan trọng trong văn hóa Mỹ.

Người Việt ngược lại, có xu hướng xem sự phục tùng, thỏa hiệp là điều quan trọng. Quyết đoán thay con cái, xem sự vâng phục của con cái là khuôn mẫu gia đình. Nên ngoài xã hội, họ thiếu sự tôn trọng quyền tự do người khác. Một chiếc váy dẫu khó xem của cô người mẫu nào đó cũng tạo nên cuộc tranh luận cộng đồng ồn ào. Hay xem việc tấn công số đông vào một vài nhân vật cộng đồng trong thời gian qua chỉ vì những người này nêu vài dữ liệu hay quan điểm cá nhân ôn hòa và khác biệt, là dăm ví dụ về điều này.

Giá trị thứ nhì là tính độc lập và tự lực. Đây là giá trị kéo theo từ giá trị tự do. Người Mỹ xem trọng sự độc lập và tự hào về sự tự lực của mình, chính điều này đã làm họ trở nên tự do, không bị phụ thuộc. Họ mong đợi người khác cũng có sự độc lập và tự lực, bắt đầu từ chính trong gia đình. Các gia đình Mỹ có con cái ra riêng, sống tự lập khi đến tuổi trưởng thành là khá phổ biến.

Trong khi đó, người Việt thiếu thói quen khuyến khích và huấn luyện con cái sự độc lập. Không ít người còn phụ thuộc, lạm dụng hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội nếu hội đủ điều kiện trên giấy tờ hơn là có hoàn cảnh thật sự. Điều lớn hơn, họ mong đợi và kỳ vọng ngoại nhân trước những vấn đề dân tộc cần sự tự lực, tự cường của chính mình.

Giá trị rất quan trọng khác trong văn hóa Mỹ là sự bình đẳng, điều được xác quyết trong Tuyên ngôn Độc Lập Hoa Kỳ rằng, “mọi người sinh ra đều bình đẳng”. Sự bình đẳng này không mặc nhiên hiện diện theo như tuyên ngôn mà đã trải qua nhiều tranh đấu bằng máu và nước mắt của người dân Mỹ trong thời gian dài để đạt đến những điều mà người di dân được mặc nhiên thừa hưởng khi đến nước Mỹ. Quyền bình đẳng để thăng tiến, để đạt được thành công. Quyền bình đẳng trong pháp luật, hãng sở, học đường, giới tính…

Đây là một trong những giá trị được trân trọng nhất tại Mỹ và nhiều phần khác biệt với văn hóa Á Đông. Bởi không ít người gốc Việt còn đặt nặng, phân biệt đối xử theo vị thế xã hội, mức độ thành công hay sự giàu nghèo, ngoại hình… của người khác. Chưa hiểu giá trị bình đẳng, cộng đồng Việt nhìn chung mang dấu hiệu xem thường các cộng đồng bạn, nên tình trạng xúc phạm, mạ lỵ cộng đồng người da đen, Mỹ La Tinh… là khá phổ biến hiện nay.

Một giá trị quan trọng khác trong văn hóa Mỹ có thể ghi nhận là tính khai phá, thích cạnh tranh và đề cao việc tự do kinh doanh. Đây là đặc tính và giá trị đã tạo ra sự thành công của giới trẻ Hoa Kỳ cho đến sự phát triển của các tập đoàn đa quốc gia. Luôn sáng tạo tìm tòi, không đi theo khuôn mẫu truyền thống, nhiều bức phá kỹ thuật cống hiến cho nhân loại hiện nay là do giới trẻ Mỹ tạo nên. Người Việt xem ra thiếu tinh thần khai phá, thích không gian an toàn và dễ thỏa mãn với thành công giới hạn.

Người Mỹ trực tính, thẳng thắn nhưng cởi mở và chân thật. Quan hệ giữa chủ-nhân viên, vợ-chồng, cha mẹ-con cái cùng các mối quan hệ xã hội thường đặt trên nền tảng của những giá trị này. Bởi chúng có lợi cho các bên và nhắm đến mục tiêu tích cực cuối cùng. Người Việt ngược lại hay vòng vo, thường né tránh vấn đề trong giao tiếp hay công việc nếu chúng gây bất lợi cho mình.

Người Mỹ xem sự chính xác của thời gian là điều quan trọng. Bất cứ sự kiện quan trọng hay hàng ngày đều diễn ra đúng giờ và nhanh gọn, chính xác theo thời gian biểu. Đây là đặc tính của xã hội phát triển cao vì nó thể hiện năng suất, hiệu quả công việc cùng tính khoa học, kỷ luật. Liệu có khác biệt với việc luôn vội vã, hấp tấp, chen lấn cắt hàng thường diễn ra nhan nhãn nhưng lại hay trễ nãi, rườm rà trong mọi sinh hoạt của cộng đồng Việt?

Và cuối cùng, nhưng ắt còn có thể kể thêm, người Mỹ luôn nhìn đến tương lai với tinh thần lạc quan. Nước Mỹ không phải không từng trải qua những thử thách nhưng chính sự phát triển của quốc gia đã làm người dân Mỹ tin rằng tương lai sẽ tốt đẹp hơn. Tự lực và tin vào cá nhân mình để hướng về tương lai hơn là tin vào số phận, định mệnh. Đó là điều giúp họ luôn chuẩn bị, hoạch định tương lai, ngắn hay dài hạn.

Người Việt thì hay nhắc chuyện xưa và thường lấy quá khứ để xét đoán hiện tại và tương lai. Lo xa nhưng tùy tiện, không hề có kế hoạch ngắn hay dài hạn, cả trong đời sống cá nhân, vấn đề công việc cho đến dự án, chiến lược mang tầm mức quốc gia.

Có thể chưa đầy đủ, nhưng những niềm tin, giá trị, suy nghĩ, hành xử chính yếu kể trên đã tạo nên một văn hóa Mỹ như hiện nay. Kể ra và so sánh không nhằm mục đích tôn vinh hay hạ thấp giá trị của nền văn hóa nào, bởi phạm trù văn hoá của một dân tộc không mang tính đúng-sai rõ ràng vì chúng có những mặt tích cực lẫn tiêu cực, thích hợp hay không thích hợp với nền văn hóa khác.

Tuy nhiên khi tiếp xúc hay đã sống trong một văn hóa và xã hội có những giá trị như vậy, người ta cần biết và hiểu để có thể hành xử thích hợp. Để nhìn các vấn đề xã hội và người chung quanh bằng sự tôn trọng và công tâm, công bằng hơn, không bị thiên lệch hay mang tính bài bác, cực đoan.

Nhầm lẫn giữa vài thành công cá nhân với sức mạnh cộng đồng, nếu không thẳng thắn nhìn nhận, học hỏi và thay đổi theo các giá trị trong văn hóa Mỹ kể trên, thì cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ không những sẽ khó bắt kịp các cộng đồng bạn, mà còn lạc lõng, ngược dòng nơi mình đang cư ngụ.
READ MORE
Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020
no image

Vào đầu năm 2004, một nhà đầu tư cổ phiếu khác, Michael Burry, đã lần đầu tiên lao vào thị trường trái phiếu. Anh học mọi thứ có thể về cách thức vay và cho vay ở Mỹ. Anh không nói với bất cứ ai về nỗi ám ảnh mới của mình; anh chỉ ngồi một mình trong văn phòng, ở San Jose, California, đọc sách báo cũng như các hồ sơ tài chính. Đặc biệt, anh muốn biết trái phiếu thế chấp dưới chuẩn hoạt động như thế nào. Các khoản vay cá nhân nhiều đến mức xếp chồng thành tháp. Các tầng trên cùng được nhận lại tiền đầu tiên và vì thế cũng nhận được xếp hạng cao nhất từ Moody’s và S&P cùng mức lãi suất thấp nhất. Các tầng thấp nhận lại tiền cuối cùng, gánh chịu những khoản lỗ đầu tiên, và bị Moody’s và S&P xếp hạng thấp nhất. Do phải chịu nhiều rủi ro hơn nên các nhà đầu tư ở các tầng đáy nhận được lãi suất cao hơn so với những nhà đầu tư ở các tầng trên. Các nhà đầu tư mua trái phiếu thế chấp phải quyết định nên đầu tư vào tầng tháp nào, nhưng Michael Burry không nghĩ về việc mua trái phiếu thế chấp. Anh đang tự hỏi làm thế nào để có thể bán khống được trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Mỗi trái phiếu thế chấp đều đi kèm với một bản cáo bạch 130 trang tẻ nhạt. Burry đã dành khoảng thời gian cuối năm 2004 và đầu năm 2005 để xem qua hàng trăm và đọc kỹ vài chục trang trong đó. Chắc chắn ngoài các luật sư soạn ra chúng thì anh là người duy nhất làm điều này. Anh đã giải thích trong một bức thư điện tử như sau: Lấy ví dụ về trường hợp của NovaStar, một nhà cho vay thế chấp dưới chuẩn kiểu khởi tạo và bán, một nguyên mẫu vào thời điểm đó. Những cái tên (trái phiếu) sẽ là NHEL 2004-1, NHEL 2004-2, NHEL 2004-3, NHEL 2005-1, v.v... Ví dụ, NHEL 2004-1 gồm các khoản vay từ các tháng đầu năm 2004 và vài tháng cuối năm 2003, 2004-2 sẽ là những khoản vay giữa năm, còn 2004- 3 là những khoản vay ở các tháng cuối năm 2004. Bạn có thể lấy những bản cáo bạch này ra, và nhanh chóng kiểm tra được nhịp độ của những gì đang diễn ra ở khu vực thế chấp dưới chuẩn trong ngành công nghiệp khởi tạo và bán. Vào đầu năm 2004, các ARM chỉ trả lãi 2/28 chỉ chiếm 5,85% rổ, nhưng đến cuối năm 2004, chúng chiếm đến 17,48% rổ, và cuối mùa hè năm 2005 là 25,34%. Thế nhưng, điểm [tín dụng tiêu dùng] FICO trung bình cho rổ đó, tỷ lệ phần trăm của khoản vay không giấy tờ trên giá trị tài sản thế chấp và một số chỉ số khác lại gần như không đổi… Vấn đề là mặc dù chúng có thể không thay đổi, nhưng rổ thế chấp tổng thể màđang được ban hành, đóng gói và bán ra ngày càng trở nên tồi tệ về chất lượng, bởi với cùng số điểm FICO trung bình hoặc cùng một tỷ lệ vay trên giá trị tài sản thế chấp, bạn ngày càng nhận được tỉ lệ phần trăm các thế chấp chỉ trả lãi cao hơn. Vào đầu năm 2004, nếu nhìn vào các con số, bạn có thể thấy rõ sự suy giảm ở các tiêu chuẩn cho vay. Theo Burry, các tiêu chuẩn không chỉ giảm mà còn chạm đáy. Đáy này thậm chí có cả tên: thế chấp dưới chuẩn lãi suất thả nổi trả dần âm chỉ trả lãi. Bạn, người mua nhà, thực sự có thể không cần trả một xu nào, và dồn lãi vay bạn nợ ngân hàng vào số dư vốn gốc. Không khó để nhận ra kiểu người thích những khoản vay như vậy: người không có thu nhập. Nhưng Burry không thể hiểu tại sao người cho vay lại muốn mở rộng những khoản cho vay như vậy. “Bạn cần phải nhìn người cho vay, chứ không phải người đi vay,” anh nói. “Những người đi vay luôn sẵn sàng vay một khoản lớn. Chính những người cho vay mới là người đưa ra các giới hạn, và khi họ bỏ qua nó, hãy coi chừng.” Đến năm 2003, anh biết rằng những người đi vay đã bỏ qua nó. Đến đầu năm 2005, anh thấy rằng những người cho vay cũng đã làm điều tương tự. Nhiều nhà quản lý quỹ phòng hộ đã dành thời gian tán gẫu với các nhà đầu tư và coi những lá thư hàng quý của họ như một nghi thức. Burry không thích nói chuyện trực tiếp với mọi người và nghĩ những lá thư này là điều quan trọng duy nhất anh làm để cho các nhà đầu tư biết được dự định của anh. Trong các lá thư hàng quý, anh đặt ra một cụm từ mới để miêu tả những gì anh nghĩ sắp xảy ra: “mở rộng tín dụng bằng công cụ.” Nó có nghĩa là rất nhiều người thực ra không đủ khả năng để trả các khoản thế chấp của họ theo lối cũ, vì thế những người cho vay đang tưởng tượng ra những công cụ mới mà có thể hợp lý hóa việc tiếp tục cho những người này vay tiền. “Đó là dấu hiệu rõ ràng cho thấy người cho vay đã bỏ qua giới hạn, liên tục làm giảm các tiêu chuẩn của chính họ nhằm gia tăng lượng cho vay,” Burry nói. Anh có thể hiểu tại sao họ làm điều này: Họ không giữ các khoản vay mà bán chúng cho Goldman Sachs, Morgan Stanley, Wells Fargo và những công ty khác. Những công ty này sẽ đóng gói chúng thành trái phiếu và bán . Anh cho rằng, người mua cuối cùng các khoản thế chấp dưới chuẩn chỉ là những “đồng tiền ngu ngốc”. Anh sẽ tìm hiểu về họ, nhưng là sau này. Hiện anh gặp phải một vấn đề về đầu tư chiến thuật. Các tầng hay các tranche khác nhau của những trái phiếu thế chấp dưới chuẩn đều có một điểm chung: Trái phiếu không thể bán khống. Để bán khống một cổ phiếu hoặc trái phiếu, bạn cần phải vay nó, nhưng những tranche này rất nhỏ và khó tìm. Bạn có thể mua hoặc không mua chúng, nhưng bạn không thể đặt cược chống lại chúng một cách rõ ràng; thị trường thế chấp dưới chuẩn đơn giản là không có chỗ cho những người có cái nhìn mập mờ về chúng. Bạn có thể biết chắc rằng thị trường trái phiếu thế chấp dưới chuẩn sẽ sụp đổ, nhưng bạn sẽ chẳng thể tận dụng được gì từ việc đó. Bạn khôngthể bán khống những căn nhà. Bạn chỉ có thể bán khống cổ phiếu của những công ty xây dựng nhà ở – Pulte Homes, hoặc Toll Brothers – nhưng có giá rất đắt, mang tính gián tiếp và rủi ro cao. Giá cổ phiếu có thể tăng trong khoảng thời gian lâu hơn nhiều khoảng thời gian mà Burry có thể duy trì khả năng thanh toán. Một vài năm trước đó, anh đã phát hiện ra hợp đồng hoán đổi nợ xấu. Một hợp đồng hoán đổi nợ xấu khó hiểu chủ yếu bởi thật ra không hề có sự hoán đổi nào hết. Đó là một chính sách bảo hiểm, chủ yếu liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp, trong đó các khoản phí bảo hiểm được thanh toán nửa năm một lần và thời hạn cố định. Ví dụ, bạn có thể trả 200.000 đô-la/năm để mua một hợp đồng hoán đổi nợ xấu có thời hạn 10 năm cho 100 triệu đô-la trái phiếu General Electric. Khoản tiền tối đa bạn có thể mất là 2 triệu đô-la: 200.000 đô-la/năm trong 10 năm. Khoản tiền tối đa bạn có thể nhận được là 100 triệu đô-la, nếu General Electric vỡ nợ vào bất cứ thời điểm nào trong 10 năm đó và những người giữ trái phiếu của công ty không nhận lại được gì. Đây là một vụ đánh cược có tổng bằng 0: Nếu bạn kiếm được 100 triệu đô-la, người đã bán cho bạn hợp đồng hoán đổi nợ xấu sẽ mất 100 triệu đô-la. Đây cũng là một cuộc đánh cược bất đối xứng, giống như việc bạn đặt tiền vào một con số nào đó trong trò Rulet. Khoản tiền tối đa bạn có thể mất là những chip bạn đặt trên bàn, nhưng nếu bạn thắng cược, bạn sẽ nhận được gấp 30, 40, thậm chí 50 lần số tiền đã cược. “Hợp đồng hoán đổi nợ xấu giúp tôi khắc phục vấn đề rủi ro vô hạn,” Burry nói. “Nếu tôi mua một hợp đồng hoán đổi nợ xấu, phần lỗ của tôi đã được xác định và chắc chắn, trong khi phần lời lại lớn gấp bội.” Anh bước chân vào thị trường các hợp đồng hoán đổi nợ xấu doanh nghiệp. Vào năm 2004, anh bắt đầu mua bảo hiểm cho các công ty mà theo anh có thể sẽ bị ảnh hưởng lớn từ cuộc suy thoái bất động sản: những công ty cho vay thế chấp, những công ty bảo hiểm thế chấp, v.v... Việc này cũng không vừa ý hoàn toàn. Một cuộc khủng hoảng thị trường bất động sản có thể khiến các công ty này mất nhiều tiền của; nhưng không có gì đảm bảo rằng họ sẽ thực sự bị phá sản. Anh muốn có một công cụ trực tiếp hơn để đánh cược chống lại hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn. Vào ngày 19 tháng 3 năm 2005, khi ngồi một mình trong văn phòng, đọc một cuốn giáo trình sâu sắc về phái sinh tín dụng, Michael Burry nảy ra một ý tưởng: các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Ý tưởng này xuất hiện khi anh đọc một cuốn sách về sự phát triển của thị trường trái phiếu Mỹ và sự hình thành của các hợp đồng hoán đổi nợ xấu doanh nghiệp đầu tiên ở J.P. Morgan vào giữa những năm 1990. Anh đọc đến đoạn giải thích tại sao các ngân hàng cảm thấy họ thật sự cần các hợp đồng hoán đổi nợ xấu. Điều này không rõ ràng ngay lập tức – suy cho cùng, cách tốt nhất để tránh rủi ro của việc General Electric vỡ nợ là ngay từ đầu không cho GeneralElectric vay tiền. Ban đầu, các hợp đồng hoán đổi nợ xấu là một công cụ để phòng ngừa rủi ro: Một số ngân hàng đã cho General Electric vay nhiều hơn mức họ muốn theo yêu cầu của GE, và họ sợ khiến khách hàng lâu dài này phật lòng; một ngân hàng khác đã thay đổi suy nghĩ về sự khôn ngoan khi cho GE vay vốn. Tuy nhiên, những sản phẩm phái sinh tín dụng mới này đã nhanh chóng trở thành các công cụ đầu cơ: Rất nhiều người muốn đặt cược vào khả năng vỡ nợ của GE. Điều này đã khiến Burry bừng tỉnh: Phố Wall chắc chắn sẽ làm điều tương tự với các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Dựa trên những gì đang xảy ra trong thị trường bất động sản – và những gì các nhà cho vay thế chấp dưới chuẩn đang làm – rất nhiều người thông minh cuối cùng sẽ muốn đặt cược vào trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Và cách duy nhất để làm điều đó là mua hợp đồng hoán đổi nợ xấu. Hợp đồng hoán đổi nợ xấu sẽ giải quyết vấn đề lớn nhất duy nhất bằng ý tưởng tuyệt vời của Mike Burry: thời điểm. Anh cảm thấy các khoản vay thế chấp dưới chuẩn được thực hiện vào đầu năm 2005 gần như chắc chắn sẽ trở thành nợ xấu. Nhưng do lãi suất của chúng được đặt cố định ở mức thấp trong 2 năm đầu nên phải sau 2 năm thì điều đó xảy ra. Các thế chấp dưới chuẩn gần như luôn phải chịu lãi suất thả nổi, nhưng hầu hết chúng lại xuất hiện dưới dạng lãi suất “trêu tức” với hai năm đầu ở mức cố định. Một thế chấp được tạo ra vào đầu năm 2005 có thể có lãi suất “cố định” hai năm đầu là 6%, nhưng đến năm 2007, lãi suất này có thể nhảy lên 11% và kích thích làn sóng vỡ nợ. Âm thanh tích tắc mờ nhạt của các khoản vay này lớn dần theo thời gian, cho đến khi nhiều người sẽ nghi ngờ, như anh đã nghi ngờ, rằng chúng là những quả bom. Một khi điều này xảy ra, sẽ không còn ai sẵn sàng bán bảo hiểm cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn nữa. Anh cần phải đặt chip của mình lên mặt bàn ngay bây giờ rồi chờ sòng bạc tỉnh lại và thay đổi tỉ lệ cược của trò chơi. Một hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho trái phiếu thế chấp dưới chuẩn 30 năm, xét về lý thuyết, chính là một vụ đặt cược được thiết kế để kéo dài trong 30 năm. Anh đã chỉ ra rằng thực tế chỉ cần 3 năm để trả hết nó. Vấn đề duy nhất đó là không có cái gì được gọi là hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn, không phải cái mà anh có thể thấy. Anh cần phải thúc ép các công ty lớn ở Phố Wall tạo ra chúng. Nhưng là các công ty nào? Nếu anh đúng và thị trường nhà đất sụp đổ, thì những công ty ở tâm của thị trường chắc chắn sẽ mất rất nhiều tiền. Việc mua bảo hiểm từ một ngân hàng sẽ thoát khỏi ngành đúng lúc bảo hiểm có giá trị cũng chả có ý nghĩa gì. Anh thậm chí không buồn kêu gọi Bear Stearns và Lehman Brothers bởi họ dính líu nhiều đến thị trường trái phiếu thế chấp hơn bất cứ công ty nào khác. Theo anh, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Deutsche Bank, Bank of American, UBS, Merrill Lynch và Citigroup có khả năng sống sót qua cuộc sụp đổ này nhiều nhất. Anh gọi cho tất cả họ. 5 trong số các công ty này khôngbiết anh đang nói về điều gì; 2 trong số đó quay trở lại và nói, điều đó có thể diễn ra vào một ngày nào đó khi thị trường không tồn tại. Trong 3 năm, các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho trái phiếu thế chấp dưới chuẩn sẽ trở thành thị trường hàng nghìn tỉ đô-la và sẽ tạo ra những khoản lỗ trị giá hàng trăm tỉ đô-la bên trong các công ty lớn ở Phố Wall. Tuy nhiên, khi Michael Burry làm phiền các công ty này vào đầu năm 2005, chỉ có Deutsche Bank và Goldman Sachs thực sự quan tâm đến cuộc nói chuyện. Còn không ai ở Phố Wall, theo như anh biết, nhìn thấy những gì anh đang thấy. Từ khi còn học tiểu học, khi cha anh chỉ cho anh thấy các bảng chứng khoán ở mặt sau của tờ báo và nói với anh rằng thị trường cổ phiếu là nơi dối trá và không bao giờ đáng tin, chứ đừng nói đến việc đầu tư vào đó, thì chủ đề này đã cuốn hút anh. Ngay từ lúc đó, anh đã muốn áp đặt logic vào thế giới của những con số này. Anh bắt đầu coi việc đọc về thị trường cổ phiếu là một sở thích. Anh không mất nhiều thời gian để nhận ra rằng không hề có logic nào tồn tại trong các bảng, đồ thị, các đợt sóng hay trong các cuộc trò chuyện bất tận của những tay tự cho mình là chuyên gia về thị trường. Sau đó bong bóng dot-com xảy ra và đột nhiên toàn bộ thị trường cổ phiếu trở nên vô lý đến tột độ. “Vào cuối những năm 1990, tôi gần như đã buộc phải tự cho mình là một nhà đầu tư giá trị, bởi tôi nghĩ những thứ mọi người đang làm thật điên rồ,” anh nói. Nhờ có Benjamin Graham, “đầu tư giá trị” được chính thức công nhận là một cách tiếp cận thị trường tài chính trong suốt thời kỳ Đại Suy Thoái. Nó đòi hỏi một cuộc tìm kiếm không mệt mỏi các công ty đã lỗi thời hoặc bị hiểu nhầm rằng chúng có thể được mua với giá thấp hơn giá trị thanh lý của chúng. Ở dạng thức đơn giản nhất, đầu tư giá trị là một công thức, nhưng nó đã biến thành những thứ khác – một trong số đó là bất cứ điều gì mà Warren Buffett, học trò của Benjamin Graham, nhà đầu tư giá trị nổi tiếng nhất, đã tình cờ làm với đồng tiền của mình. Burry không nghĩ rằng đầu tư có thể được rút gọn thành một công thức hay được học hỏi từ bất cứ mô hình hình mẫu nào. Anh càng tìm hiểu về Buffett, anh càng không thể nghĩ rằng có thể sao chép được Buffett; quả thật vậy, Buffett dạy bạn rằng: Để thành công một cách ngoạn mục, bạn phải bất thường một cách ngoạn mục. “Nếu bạn định trở thành một nhà đầu tư vĩ đại, bạn phải tạo ra một phong cách hợp với bản thân mình,” Burry nói. “Có lúc, tôi nhận thấy rằng Warren Buffett, dù có được mọi lợi thế trong việc học hỏi Ben Graham, nhưng ông không hề sao chép Ben Graham, mà thay vào đó đặt ra con đường cho riêng mình, quản lý đồng tiền theo cách của mình, bằng các quy tắc riêng… Tôi cũng ngay lập tức tiếp thu ý kiến cho rằng không trường học nào có thể dạy ai đó cách trở thành nhà đầu tư vĩ đại. Nếu có, chắc chắn đó sẽ là ngôi trường nổi tiếng nhất thế giới, với học phí cao đến mức không tưởng. Vì thế, chắc chắn là không có.”Đầu tư là việc bạn phải học cách tự thực hiện, theo một cách kỳ lạ của riêng bạn. Burry không có tiền để đầu tư, nhưng anh vẫn mang theo nỗi ám ảnh này trong suốt những năm tháng học trung học, cao đẳng rồi đại học y khoa. Anh vào làm ở Bệnh viện Stanford mà không tham gia bất cứ lớp học tài chính hay kế toán nào, chứ đừng nói đến việc làm việc cho bất kỳ một công ty Phố Wall nào. Anh có khoảng 40.000 đô-la tiền mặt, nợ các khoản vay sinh viên khoảng 145.000 đô-la. Anh là bác sỹ thực tập trong 4 năm qua. Tuy nhiên, anh đã tìm được thời điểm để trở thành một chuyên gia tài chính. Vào một đêm muộn tháng 11 năm 1996, khi thay ca ở khoa Tim, bệnh viện St. Thomas, ở Nashville, Tennessee, anh đã đăng nhập vào một máy tính của bệnh viện để tiếp cận bảng thông báo mang tên techstocks.com. Anh đã tạo ra một chủ đề có tên là đầu tư giá trị ở đây. Sau khi đọc xong mọi thứ về đầu tư có trên này, anh quyết định tìm hiểu thêm về “đầu tư thực.” Hội chứng cuồng cổ phiếu Internet đang thống lĩnh thị trường. Một trang web dành cho các nhà đầu tư ở thung lũng Silicon vào khoảng năm 1996 không phải là một ngôi nhà tự nhiên dành cho các nhà đầu tư giá trị nghiêm túc. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tham gia và đưa ra mọi ý kiến về chủ đề. Một vài người phàn nàn về việc một bác sĩ thì biết gì về đầu tư, nhưng dần dần, anh đã làm chủ được cuộc thảo luận. Tiến sĩ Mike Burry – như anh luôn tự nhận – cảm nhận rằng những người khác tham gia chủ đề đang nghe theo lời khuyên của anh và kiếm tiền từ đó. Khi nhận ra không còn gì để học hỏi từ mọi người trên diễn đàn, anh đã bỏ nó để tạo ra thứ sau này được gọi là blog nhưng ở thời điểm đó chỉ là một dạng giao tiếp kỳ lạ. Anh làm ca 16 tiếng tại bệnh viện, chỉ viết blog từ nửa đêm đến 3 giờ sáng. Trong blog, anh đăng các giao dịch thị trường cổ phiếu của mình cũng như các lập luận về việc thực hiện các giao dịch đó. Mọi người đã tìm thấy anh. Như một quản lý tài chính tại một quỹ giá trị lớn ở Philadelphia chia sẻ, “Điều đầu tiên tôi tự hỏi là, Anh ta làm điều này lúc nào? Anh chàng này là bác sỹ thực tập. Tôi chỉ thấy phần thời gian không liên quan đến y khoa của anh ấy, nó thật tuyệt vời. Anh ấy đang cho mọi người xem các giao dịch của mình. Và mọi người làm theo nó ở ngoài đời thực. Anh ấy đang đầu tư giá trị – ở trung tâm của bong bóng dot-com. Anh ấy đang mua các cổ phiếu giá trị, đó là những gì chúng tôi đang làm. Nhưng chúng tôi đang đánh mất tiền. Chúng tôi đang đánh mất khách hàng. Đột nhiên, anh ấy đi theo vết rách này. Anh ấy tăng 50%. Điều đó thật kỳ lạ. Anh ấy thật kỳ lạ. Và chúng tôi không phải là những người duy nhất dõi theo nó.” Mike Burry không thể biết chính xác ai đang theo dõi các động thái tài chính của mình, nhưng anh có thể nói họ đến từ lĩnh vực nào. Ban đầu, các độc giả của anh đến từ EarthLink và AOL. Chỉ là những cá nhân ngẫu nhiên. Tuy nhiên, ngay sau đó không còn như vậy nữa. Những ngườighé thăm trang của anh đến từ các quỹ tương hỗ như Fidelity và các ngân hàng đầu tư lớn ở Phố Wall như Morgan Stanley. Một ngày nọ, anh tấn công vào các quỹ chỉ số của Vanguard và gần như ngay lập tức nhận được yêu cầu chấm dứt từ các luật sư của Vanguard. Burry ngờ rằng các nhà đầu tư nghiêm túc có thể đang làm theo các bài đăng trên blog của anh, nhưng anh không thể biết họ là ai. “Thị trường đã tìm thấy anh ấy,” người quản lý quỹ tương hỗ ở Philadelphia nói. “Anh ấy phát hiện ra những khuôn mẫu mà không ai nhìn thấy.” Khi Burry chuyển đến bệnh viện Stanford vào năm 1998 ở vị trí bác sĩ nội trú làm việc tại khoa thần kinh học, công việc anh làm từ nửa đêm đến 3 giờ sáng đã tạo nên một trung tâm nhỏ nhưng đầy ý nghĩa trong vùng đất đầu tư giá trị. Đến thời điểm này, cơn sốt cổ phiếu Internet đã hoàn toàn mất kiểm soát và lây lan sang cả cộng đồng y khoa Đại học Stanford. “Những bác sĩ nội trú nói riêng, và một vài người ở bộ phận khác, đã bị cuốn vào cơn sốt dot-com,” Burry nói. “Một thiểu số những con người lịch sự trong số họ đang mua và thảo luận về mọi thứ. Tôi chỉ im lặng, bởi tôi không muốn bất cứ ai biết tôi đang làm gì ngoài giờ. Tôi nghĩ mình có thể gặp rắc rối lớn nếu các bác sĩ ở đó biết tôi không toàn tâm toàn ý với y khoa.” Những người lo lắng về việc phải gắn bó với ngành y có thể không toàn tâm toàn ý với nó. Càng đi sâu vào sự nghiệp y khoa, Burry càng cảm thấy bối rối với các vấn đề về giao tiếp giữa anh và những người khác. Anh cố gắng trong một thời gian ngắn, náu mình ở khoa nghiên cứu bệnh lý, nơi mọi người rất kiệm lời, nhưng vẫn không hiệu quả. Anh trở lại San Jose, chôn cất cha mình, tái hôn và bị các chuyên gia chuẩn đoán sai là một người lưỡng cực khi anh đóng cửa trang web của mình, đồng thời thông báo rằng anh sẽ từ bỏ thần kinh học để trở thành nhà quản lý tiền tệ. Trưởng khoa Thần Kinh học của Bệnh viện Stanford nghĩ anh mất trí và khuyên anh nên dành một năm để nghĩ kĩ hơn, nhưng anh đã nghĩ rất kĩ rồi. Anh nói, “Tôi thấy thật hấp dẫn và có vẻ là lựa chọn đúng đắn,” anh nói, “khi nghĩ rằng nếu tôi có thể điều hành một danh mục đầu tư tốt, thì tôi có thể thành công trong cuộc sống, và rằng nó không quan tâm tôi bị coi là kiểu người gì, mặc dù sâu bên trong tôi cảm thấy tôi là một người tốt.” Tài sản 40.000 đô-la so với 145.000 đô-la tiền nợ các khoản vay sinh viên của anh đã dấy lên một câu hỏi rằng chính xác anh sẽ quản lý danh mục đầu tư nào. Bố anh mất sau một chẩn đoán nhầm khác: Một bác sĩ đã không thể phát hiện ra khối ung thư trên phim chụp X-quang, và gia đình anh đã nhận được một khoản tiền bồi thường nhỏ. Người cha không ủng hộ anh bước chân vào thị trường chứng khoán, nhưng tiền bồi thường cho cái chết của ông đã giúp con trai mình làm được điều đó. Mẹ anh góp 20.000 đô-la, 3 anh em anh góp mỗi người 10.000 đô-la. Với số vốn đó, Tiến sĩ Michael Burry đã mở Quỹ Scion. (Từ khi còn là một cậu bé, anh đã thích cuốn sách The Scions of Shannara.) Anh thảo ra một bản thông báo rất long trọngđể thu hút nhà đầu tư bên ngoài. Bản thông báo có ghi: “Các nhà đầu tư có thể đóng góp tối thiểu là 15 triệu đô-la.” Điều này rất thú vị, bởi nó loại trừ không chỉ anh mà cả những người anh đã từng biết qua. Khi đang xoay xở tìm địa điểm đặt văn phòng, mua đồ nội thất, và mở tài khoản môi giới, anh nhận được 2 cuộc điện thoại bất ngờ. Đầu tiên là từ một quỹ đầu tư lớn ở New York, Gotham Capital. Gotham được một bậc thầy về đầu tư giá trị có tên là Joel Greenblatt thành lập. Burry đã từng đọc cuốn sách của Greenblatt mang tên You Can Be a Stock Market Genius (tạm dịch: Bạn có thể trở thành thiên tài trong thị trường chứng khoán). (“Tôi ghét tiêu đề sách nhưng rất thích nội dung cuốn sách này.”) Nhân viên của Greenblatt nói với anh rằng thi thoảng, họ kiếm được tiền từ các ý tưởng của anh và muốn tiếp tục làm điều đó – Liệu Mike Burry có cân nhắc để Gotham đầu tư vào quỹ của anh? “Đích thân Joel Greenblatt gọi và nói, ‘Tôi đợi anh bỏ nghề y lâu rồi.’” Gotham mời Burry và vợ anh đến New York – và đó là lần đầu tiên Michael Burry được ngồi máy bay tới New York ở ghế hạng thương gia – và đón anh đến ở khách sạn Intercontinental. Trên đường đến gặp Greenblatt, Burry bồn chồn, phát điên vì lo lắng, thứ cảm xúc vốn luôn cản trở anh trước các cuộc gặp trực tiếp với mọi người. Anh cảm thấy dễ chịu hơn chút khi biết người ở Gotham đã đọc khá nhiều những gì anh viết. “Nếu anh đọc những gì tôi viết trước, và sau đó gặp tôi, thì cuộc gặp sẽ diễn ra tốt đẹp,” anh nói. “Những người gặp tôi mà chưa đọc những gì tôi viết – thì cuộc gặp sẽ không bao giờ suôn sẻ. Ngay ở trường trung học cũng vậy – thậm chí với cả các giáo viên.” Anh đang trải qua một cuộc khảo sát mù: Bạn phải quyết định xem liệu bạn có tán thành với anh ta không trước khi bạn gặp anh ta. Trong trường hợp này, anh gặp phải một bất lợi nghiêm trọng, bởi anh không biết các nhà quản lý tiền tệ thành công này ăn mặc thế nào. “Anh ấy gọi cho tôi vào ngày trước cuộc gặp mặt,” một trong những người bạn qua e-mail của anh nói, người vốn là một nhà quản lý tiền tệ chuyên nghiệp. “Và anh ấy hỏi, ‘Tôi nên ăn vận như thế nào?’ Anh ấy thậm chí còn không có cà vạt. Anh ấy có một chiếc áo khoác thể thao màu xanh, chuyên để tham dự tang lễ.” Đây cũng là một tật khác của Mike Burry. Trong các bài viết, anh thể hiện mình rất trang trọng, thậm chí có phần cứng nhắc, nhưng anh lại ăn vận rất suồng sã. Trên đường đi bộ tới văn phòng của Gotham, anh vội vàng ghé vào một cửa hàng Tie Rack và mua tạm một chiếc cà vạt. Anh đến công ty quản lý tài chính lớn của New York với trang phục trang trọng nhất từ trước tới nay chỉ để thấy rằng những người tiếp đón anh mặc mỗi áo phông và quần thể thao. Cuộc trao đổi sau cũng có vẻ giống kiểu như vậy.“Chúng tôi sẽ đầu tư cho anh 1 triệu đô-la.” “Hả?” “Chúng tôi muốn mua 1/4 quỹ phòng hộ mới của anh với giá 1 triệu đô-la.” “Ông nói thật chứ?” “Thật. Chúng tôi đang đưa ra đề nghị 1 triệu đô-la.” “Sau thuế!” Bằng cách nào đó, Burry đã nghĩ rằng một ngày nào đó anh muốn quỹ có giá trị 1 triệu đô-la, sau thuế. Dù sao đi nữa, anh cũng đã vừa mới thốt lên điều đó trước khi anh kịp hiểu họ đang theo đuổi điều gì. Và họ đã đồng ý thỏa thuận! Ở thời điểm đó, dựa vào những gì anh viết trên blog, thì anh, từ một sinh viên y khoa nợ nần với tài sản âm 105.000 đô-la, đã trở thành một triệu phú với vài khoản nợ nhỏ. Burry không biết đó là lần đầu tiên Joel Greenblatt làm một điều như vậy. “Anh ta rõ ràng một chàng trai tài giỏi và không có nhiều người như vậy,” Greenblatt nói. Một thời gian ngắn sau cuộc gặp gỡ kỳ lạ, anh nhận được cuộc gọi từ công ty bảo hiểm White Mountains. White Mountains được điều hành bởi Jack Byrne, một thành viên trong vòng tròn nội bộ của Warren Buffett, và họ đã từng nói chuyện với Gotham Capital. “Chúng tôi không biết anh đang bán một phần công ty của anh,” họ nói – và Burry giải thích rằng anh cũng không nhận ra điều đó cho đến tận một vài ngày trước đây, khi có người đưa ra đề nghị 1 triệu đô-la sau thuế để mua nó. Hóa ra White Mountains cũng quan sát Michael Burry rất kỹ. “Điểm hấp dẫn nhất đối với chúng tôi đó là anh ta là một bác sĩ nội trú thần kinh,” Kip Oberting đã nói tại White Mountains. “Anh ta làm điều chết tiệt đó khi nào?” Anh nhận được 600.000 đô-la từ White Mountains để đổi lấy một phần nhỏ hơn trong quỹ của anh ấy, cộng thêm một lời hứa sẽ đầu tư thêm 10 triệu đô-la. Oberting nói, “Đúng vậy, anh ấy là người duy nhất chúng tôi tìm thấy trên Internet, gọi điện và đầu tư tiền.” Trong năm đầu tiên kinh doanh, tiến sĩ Mike Burry đã phải vật lộn trong một thời gian ngắn với khía cạnh xã hội của hoạt động quản lý tiền. “Nhìn chung, bạn sẽ không thể gọi được vốn trừ khi bạn giao tiếp giỏi,” anh nói, “và nhìn chung, tôi là người không muốn tiếp xúc với nhiều người. Những người làm với tôi nhìn chung cũng nhận thấy điều đó.” Anh đến dự một hội nghị do Bank of American tổ chức để giới thiệu các nhà quản lý quỹ mới với các nhà đầu tư giàu có, và những người tham dự cũng đều nhận ra điều đó. Anh đưa ra một bài phát biểu trong đó lậpluận rằng cách họ đánh giá rủi ro rất ngớ ngẩn. Họ đo lường rủi ro bằng biến động: cổ phiếu hoặc trái phiếu lên xuống như thế nào trong những năm vừa qua. Rủi ro thực sự không phải là biến động; rủi ro thực sự chính là các quyết định đầu tư ngu xuẩn. Sau đó, anh kết luận, “rốt cuộc, người giàu nhất trong những người giàu và những người đại diện cho họ đã chấp nhận rằng hầu hết các nhà quản lý chỉ ở mức trung bình, còn những người giỏi hơn có thể đạt được lợi tức trung bình với mức biến động dưới trung bình. Theo logic này, 1 đô-la có giá 50 xu ngày hôm nay, 60 xu ngày tiếp theo và 40 xu ngày tiếp theo nữa, bằng cách nào đó, sẽ có giá trị thấp hơn 1 đô-la có giá 50 xu trong cả 3 ngày. Tôi lại cho rằng khả năng mua được ở mức giá 40 xu là một cơ hội, chứ không phải rủi ro, và đồng đô-la đó vẫn có giá trị là 1 đô-la.” Tất cả mọi người đều im lặng và bữa trưa đó, anh ăn một mình. Anh ngồi ở một chiếc bàn tròn rất lớn và quan sát mọi người trò chuyện vui vẻ ở các bàn xung quanh. Khi anh nói chuyện trực tiếp với mọi người, anh không thể biết cái gì đã khiến họ lảng tránh anh, lời anh nói hay con người anh. Anh đã tìm hiểu rất kĩ về Warren Buffett, người mà bằng cách nào đó vừa thành công vừa được mọi người mến mộ. Buffett cũng gặp khó khăn khi giao tiếp với mọi người khi còn trẻ. Ông đã tham dự một khóa học của Dale Carnegie để hiểu thêm về cách tương tác hiệu quả với mọi người xung quanh. Mike Burry trưởng thành trong một nền văn hóa tiền tệ hoàn toàn khác biệt. Internet đã thay thế Dale Carnegie. Anh không cần phải gặp gỡ mọi người. Anh có thể nói về bản thân qua mạng và chờ các nhà đầu tư tìm đến mình. Anh có thể viết ra những suy nghĩ phức tạp của bản thân và chờ mọi người đọc chúng rồi gửi tiền của họ đến nhờ anh quản lý. “Buffett quá đỗi nổi tiếng đối với tôi,” Burry nói. “Tôi sẽ không thể nào trở thành người tốt.” Phương pháp gọi vốn này phù hợp với Mike Burry. Hơn thế nữa, nó rất hiệu quả. Anh bắt đầu xây dựng Quỹ Scion với hơn 1 triệu đô-la – số tiền đầu tư từ mẹ, các anh em và 1 triệu đô-la sau thuế của riêng anh. Trong cả năm đầu tiên, năm 2001, S&P 500 giảm 11,88%. Scion tăng 55%. Trong năm tiếp theo, S&P 500 lại giảm 22,1%, tuy nhiên, Scion lại tăng 16%. Năm tiếp theo, năm 2003, thị trường chứng khoán cuối cùng cũng lội ngược dòng và tăng 28,69%, nhưng Mike Burry đã đánh bại nó một lần nữa – các khoản đầu tư của anh tăng 50%. Đến cuối năm 2004, Mike Burry quản lý 600 triệu đô-la và đang bỏ bớt tiền đi. “Nếu anh ta điều hành quỹ của mình chỉ để tối đa hóa số tiền anh ta đang quản lý thì anh ta có thể đã đang quản lý nhiều tỷ đô-la,” một nhà quản lý quỹ phòng hộ New York, người quan sát hoạt động của Burry với sự ngờ vực ngày càng tăng, đã nhận xét. “Anh ta đã thiết kế ra Scion sao cho nó kinh doanh thì tồi nhưng đầu tư thì tốt.” “Dù huy động vốn có thể là một cuộc thi về mức độ được hâm mộ,” Burry viết cho các nhà đầutư, có lẽ là để trấn an họ rằng họ có yêu mến nhà quản lý tài chính của họ, hoặc thậm chí có biết anh hay không đều không quan trọng, “nhưng đầu tư thông minh thì hoàn toàn ngược lại.” Warren Buffett có một đối tác khá hóm hỉnh sâu cay, Charlie Munger, người rõ ràng không màng đến việc mọi người có yêu quý mình hay không nhiều như Buffett. Trở lại năm 1995, Munger đã có một buổi nói chuyện tại Trường Kinh doanh Harvard mang tên “Tâm lý học về những đánh giá sai lầm của con người.” Munger nói, nếu bạn muốn dự đoán cách cư xử của mọi người, hãy quan sát những động cơ của họ. FedEx không thể khiến các ca làm việc ban đêm kết thúc đúng giờ; họ thử mọi cách để tăng tốc nhưng không hiệu quả – cho đến khi họ thôi không trả lương công nhân làm việc ca đêm theo giờ và trả lương theo ca. Xerox đã chế tạo ra một chiếc máy mới và tốt hơn chỉ để thấy rằng nó bán kém hơn những chiếc máy cũ – cho đến khi họ nhận ra đội ngũ kinh doanh nhận được mức hoa hồng lớn hơn khi bán được một chiếc máy cũ. “Anh có thể nói, ‘Tất cả mọi người đều biết điều đó,’” Munger cho hay. “Tôi nghĩ mình thuộc nhóm 5% những người ở tầm tuổi tôi đã dành trọn cuộc đời để tìm hiểu sức mạnh của những động cơ và tôi đã đánh giá quá thấp về chúng trong suốt cuộc đời mình. Không năm nào qua đi mà tôi không nhận được một vài sự ngạc nhiên giúp đẩy giới hạn của tôi xa thêm chút nữa.” Những chia sẻ của Munger có nhiều điểm tương đồng với niềm tin của Mike Burry về các thị trường và những người liên quan trong đó. Burry nói, “Tôi đọc bài phát biểu đó và nói, tôi đồng ý hoàn toàn với những gì được viết trong đó.” Burry có một góc nhìn riêng về chủ đề này, được tích lũy từ quãng thời gian anh dành cho y khoa. Ngay cả trong những tình huống sống còn, các bác sĩ, y tá và bệnh nhân đều bị ảnh hưởng bởi những động cơ mang tính tiêu cực. Ví dụ, ở trong các bệnh viện nơi tỉ lệ bồi hoàn cho thủ thuật cắt bỏ ruột thừa cao hơn, thì các bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ nhiều ruột thừa hơn. Vì vậy, khi Mike Burry kinh doanh, anh phải đảm bảo rằng mình có những động cơ hợp lý. Anh không chấp nhận thỏa thuận của những nhà quản lý quỹ phòng hộ điển hình. Hầu hết họ được nhận 2% giá trị tài sản nên việc duy nhất họ cần làm là chất đống tiền của những người khác. Quỹ Scion chỉ tính các chi phí thực cho các nhà đầu tư – luôn ở mức thấp hơn 1% giá trị tài sản. Để thu lãi cho mình, anh phải khiến tiền của các nhà đầu tư sinh lời. “Hãy nghĩ về sự hình thành của Scion,” một trong những nhà đầu tư đầu tiên của anh nói. “Gã đó không có tiền và anh ta chọn cách từ chối một khoản phí mà bất cứ quỹ phòng hộ nào khác coi là đương nhiên. Đây là một điều chưa từng được nghe nói đến.” Ngay từ đầu, Quỹ Scion đã thành công đến mức khó tin. Vào giữa năm 2005, suốt giai đoạn màchỉ số thị trường chứng khoán nhìn chung giảm xuống 6,84% thì quỹ của Burry tăng trưởng 242% và bắt đầu từ chối các nhà đầu tư. Với lượng khách hàng càng ngày tăng, nó dường như không quan tâm đến việc thị trường cổ phiếu tăng hay giảm; Mike Burry luôn tìm được điểm đầu tư tiền một cách khôn ngoan. Anh không dùng đòn bẩy và tránh bán khống cổ phiếu. Anh không làm gì có tiềm năng ngoài việc mua các cổ phiếu phổ thông và không làm gì phức tạp hơn việc ngồi trong phòng và đọc các bản báo cáo tài chính. Với mức phí 100 đô-la/năm, anh trở thành người đăng ký sử dụng của 10-K Wizard. Bộ máy ra quyết định của Quỹ Scion gồm một chàng trai ở trong phòng, luôn đóng cửa, ngồi trong yên lặng, miệt mài nghiên cứu các thông tin có sẵn công khai và các dữ liệu trên 10-K Wizard. Anh đi tìm các phán quyết của toàn án, hoàn tất thỏa thuận hoặc những thay đổi trong quy định của chính phủ – bất cứ điều gì có thể làm thay đổi giá trị của một công ty. Thường thì anh tìm ra những thứ mà anh gọi là các vụ đầu tư “khiếp.” Vào tháng 10 năm 2001, anh giải thích khái niệm này trong bức thư gửi cho các nhà đầu tư: “Đầu tư khiếp tức là quan tâm đặc biệt về mặt phân tích đến các cổ phiếu mà mang lại phản ứng đầu tiên là ‘khiếp!’” Avant! Corporation là một ví dụ hấp dẫn. Anh tìm thấy nó khi tìm kiếm từ khóa “được chấp nhận” trong các mẩu tin tức. Anh biết rằng, là người đứng bên lề sân chơi, anh cần phải tìm những cách không chính thống để kéo nghiêng nó theo lợi thế của mình, và điều đó luôn có nghĩa là tìm kiếm các tình huống bất thường mà cả thế giới không chú ý đến. “Tôi không tìm các tin tức về lừa đảo hay gian lận,” anh nói. “Đó là nhìn về phía sau, còn tôi đang muốn đi trước. Tôi đang tìm thứ gì đó xảy ra trong các toà án mà có thể dẫn đến một ý tưởng đầu tư. Một lập luận được chấp nhận, một lời bào chữa được chấp nhận, một phương án giải quyết được chấp nhận bởi tòa án.” Một tòa án đã chấp nhận lời bào chữa từ một công ty phần mềm có tên là Avant! Corporation. Avant! bị buộc tội đánh cắp mã phần mềm được coi là nền tảng kinh doanh của Avant! từ công ty đối thủ. Công ty này có 100 triệu đô-la tiền mặt trong ngân hàng, hàng năm vẫn đang tạo ra khoảng 100 triệu đô-la dòng tiền mặt tự do – và có giá trị thị trường chỉ 250 triệu đô-la! Michael Burry bắt đầu tìm hiểu sâu hơn; đến khi hoàn thành, anh biết nhiều hơn về Avant! Corporation hơn bất cứ ai. Anh có thể nhận thấy rằng ngay cả khi các giám đốc điều hành phải đi và phải đóng tiền phạt, thì Avant! vẫn có giá trị cao hơn mức mà thị trường lúc đó ước tính. Hầu hết các kĩ sư của công ty đều ghi quốc tịch Trung Quốc trên thị thực làm việc, và do đó bị mắc kẹt – không có rủi ro liên quan đến việc bất cứ ai có thể bỏ việc trước khi sự thật được tìm ra. Tuy nhiên, để kiếm tiền trên cổ phiếu của Avant!, anh có thể phải chịu tổn thất trong ngắn hạn, bởi các nhà đầu tư đang bán tháo cổ phiếu khi hoảng hốt phát hiện ra những điểm tiêu cực được công khai.
READ MORE
Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2020
no image

Paul Samuelson yêu trường Đại học Harvard. Tình yêu ấy hoàn toàn không có gì có thể thay thế được. Ở tuổi hai mươi lăm, số lượng công trình nghiên cứu đăng trên các báo của anh thậm chí còn nhiều hơn số tuổi đó. Tuy nhiên, vị trí của anh dường như vẫn còn thấp kém tại Harvard, nơi người ta xếp anh vào vị trí trợ giảng môn kinh tế học, một vị trí có mức lương thấp. Chiếc ghế giảng viên là một viễn cảnh xa vời. Một trong các đồng nghiệp của Samuelson đã được đề bạt lên làm giảng viên vì bản thân người này có một khiếm khuyết - anh ta xuất thân từ vùng Kansas. Còn Samuclson lại xuất thân từ Gary, bang Indiana. Người Kansas không phải là người Do Thái, trong khi Samuclson là người Do Thái.

Năm 1940, Samuelson đã nhận lời mời để chuyển đến mạn cuối bên kia của vùng Cambridge cách đó ba dặm. MIT là một viện chuyên về các môn khoa học và đào tạo kỹ sư, dường như không hề có một khoa nào về kinh tế học cũng như các khóa đào tạo lãnh đạo kinh tế hay chính trị cho nước Mỹ. Trong thời kỳ mà các trường đại học danh tiếng ở phía đông nước Mỹ âm thầm chống lại cộng đồng Do Thái, "chủ trương ngoại lệ" của MIT chính là họ sẵn sàng tuyển dụng một người trong cộng đồng này, miễn là anh ta thông minh.

Sự tập trung vào kỹ thuật của MIT rất phù hợp với tài năng của Samuelson. Samuelson chọn hướng nghiên cứu kinh tế như một môn khoa học toán. Đó là phương pháp tiếp cận đi ngược lại những thông lệ thời ấy. Từ thời Adam Smith đến John Maynard Keynes, kinh tế học đa phần chỉ là những bài thảo luận. Ớ Harvard, kinh tố hục cùng vẫn được nghiên cứu theo phương pháp luận. Nhưng tại MIT, Samuelson phát triển nó thành toán học.

Samuelson thoải mái với các phương trình vi phân như một nhà vật lý vậy. Giấy tờ nghiên cứu của anh chi chít các "định lý" mà anh gọi đó là kết quả. Nhờ vào điểm này, Samuelson đã kết hợp được những lập luận ngắn gọn nhưng sắc bén vào trong bài thuyết giảng và các ấn bản của mình, khiến chúng khác biệt so với vô số những phát biểu buồn tẻ và dài lê thê khác. Samuelson trở thành một giảng viên xuất chúng. Có lẽ không một nhà kinh tế học nào lúc bây giờ có thể tiếp bước thế hệ trước một cách thành công như Samuelson đã từng làm tại MIT. Tầm ảnh hưởng của anh giờ đây vươn xa ra khỏi Cambridge. Năm 1948, Samuelson tập trung các kiến thức bách khoa và sự tinh tế trong ngôn từ của mình vào trong quyển sách "Economics 101" (Kinh tế học 101). Tựa đề đơn giản chỉ là Kinh tế học nhưng như thế cũng là quá đủ đối với một cuốn sách bán chạy nhất trong mọi thời đại. Có lần Samuelson đã nói: "Nếu như tôi có thể viết cuốn sách này, hãy để những ai có mong muốn được viết nên những điều luật của quốc gia."

Samuelson là người theo chế độ dân chủ. Ông là người đã cố vấn cho ứng cử viên tranh cử tổng thống Adlai Stevenson và Tổng thống John Fitzgerald Kennedy các vấn đề kinh tế. Ông vẫn được đánh giá là nhà tư vấn đáng tin cậy dưới thời của Camelot. Giữa thập niên 1960, ảnh hưởng của Samuelson tới các nhà kinh tế học là tuyệt đối và gần như một tay ông đưa danh tiếng khoa kinh tế MIT lên đỉnh cao vinh quang.
READ MORE
Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2020
no image

Ngồi đợi may mắn tình cờ, chi bằng hãy nỗ lực giành lấy thành công mà mình muốn.

1. Trong thời đại cạnh tranh, thành công chỉ dựa trên kết quả chứ không kể đến quá trình

Trong thời đại kinh doanh đặt hiệu quả là ưu tiên hàng đầu thì hiệu suất là yếu tố vô cùng quan trọng. Dù bạn có chăm chỉ và bận rộn đến đâu, nếu bạn làm việc thiếu hiệu quả và không đạt được mụa tiêu cần thiết thì tất cả việc bạn làm đều vô ích. Chỉ khi đạt được hiệu quả, những nỗ lực của bạn mới được đền đáp, những vất vả mà bạn phải trải qua mới có giá trị.

Thành công là liều thuốc giải độc tốt nhất cho nỗi đau. Trong thời đại cạnh tranh, thành công chỉ dựa trên kết quả chứ không kể đến quá trình. Mặc dù vậy, nhưng nếu không trải qua quá trình nỗ lực và chăm chỉ thì bạn chẳng thể có được kết quả cho bất kì việc gì.

Sẽ không có bánh nướng rơi từ trên trời xuống và không có bữa trưa miễn phí trên thế giới này. Ngay cả khi bạn tình cờ đạt được sự thuận lợi, bạn không thể gọi đó là thành công, mà nó gọi là may mắn. Và may mắn thì rất khó kéo dài.

Thế giới này sẽ luôn thuộc về kẻ mạnh. Bất cứ ai có một chút kiến ​​thức lịch sử đều biết rằng kẻ mạnh luôn thống trị thế giới, giống như việc các tiêu chuẩn được đặt ra bởi các công ty lớn trong ngành nghề mà họ tham gia.

2. Không còn chuyện có tài năng nhưng không gặp thời, chúng ta đều phải không ngừng tìm kiếm cơ hội

Các nhà tâm lý học đã tiến hành một thí nghiệm như sau: Đặt một con cá sấu đang đói bụng và một vài con cá nhỏ ở hai đầu của bể cá, và chính giữa chúng được chặn bằng một tấm kính trong suốt.

Lúc đầu, cá sấu tấn công những con cá nhỏ không do dự và thất bại, nhưng nó không nản lòng, nó tiếp tục có một cuộc tấn công dữ dội thứ hai, nó lại thất bại và bị thương nặng; các cuộc tấn công lần thứ ba, lần thứ tư ... đều như vậy. Sau nhiều lần không thành công, nó không tiếp tục nữa.

Tại thời điểm này, nhà tâm lý học đã gỡ bỏ vách ngăn ra. Liệu cá sấu có còn tấn công những con cá nhỏ đó nữa không ? Câu trả lời là: nó đã dừng tấn công. Cá sấu nhìn một cách vô vọng những con cá nhỏ đó đang bơi thong thả dưới mắt nó và từ bỏ mọi nỗ lực.

3. Những người muốn "tình cờ" đạt được thành công thay vì “nỗ lực” đều không bao giờ có được nó

Từ thời xa xưa, đã có một câu nói phổ biến ở Trung Quốc rằng: “Mã vô dạ thảo bất phì, nhân vô hoạnh tài bất phú". Câu này có nghĩa là nếu  ngựa không ăn cỏ đêm sẽ không béo, người không có kế hoạch làm việc, kiếm tiền sẽ chẳng giàu sang.

Những người nghèo thường mong chờ vận may, tin vào cơ hội đổi đời trong chớp mắt. Khi không có cách nào để kiếm tiền đường đường chính chính, họ đặt hi vọng vào những nơi cung cấp cơ hội để “bỗng dưng phát tài", chẳng hạn như xổ số, cá cược hoặc sòng bạc, mặc dù xác suất để kiếm được tiền là vô cùng nhỏ. Nhưng với tình hình hiện tại, cơ hội đổi đời như vậy là vô cùng hiếm có.

4. Thành công là một quá trình hình thành và duy trì tính cách độc đáo của riêng bạn

Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế dựa trên tự do và bình đẳng, trong khi tự do và bình đẳng chắc chắn phải làm nổi bật tính cá nhân. Đây là một kỷ nguyên tự do và công khai, và thành công phải dựa vào chính bản thân bạn.

5. Che giấu sai lầm thường phải trả giá đắt hơn là thừa nhận sai lầm

Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt đã có bài phát biểu tại một thị trấn nhỏ ở New Jersey năm 1912. Khi ông nói trong bài phát biểu rằng phụ nữ nên tích cực tham gia các cuộc bầu cử, một người nào đó trong khán giả đột nhiên hét lên: "Thưa ông ! Câu này có khác với ý kiến ​​của ông năm năm trước không?".

Roosevelt không hề né tránh hoặc che đậy. Thay vào đó, ông trả lời một cách khôn ngoan: "Năm năm trước, tôi đã có một ý kiến khác, và bây giờ tôi đã nhận ra rằng ý kiến của tôi tại thời điểm đó là sai!". Câu trả lời thẳng thắn, trung thực và chân thành đó không chỉ cho phép người có được câu trả lời thỏa đáng, mà ngay cả những người khác cũng không thể cảm thấy khó chịu.

6. Bạn nên tập trung vào điểm mạnh của bản thân hơn là khắc phục điểm yếu

7 nguyên tắc vàng nhất định phải biết nếu muốn đời lên hương: Không còn chuyện có tài năng nhưng không gặp thời, những kẻ chờ thành công tình cờ mãi mãi không bao giờ có được nó - Ảnh 2.
Nguyên tắc là tận dụng tối đa điểm mạnh của bản thân và tập trung vào cách sử dụng chúng  để tối đa hóa điểm mạnh của mình, cũng có nghĩa là tối đa hóa giá trị của riêng bạn. Đối với cái gọi là thiếu sót, nhược điểm, điểm yếu, chúng ta nên tìm cách tránh, thay vì suy nghĩ về cách khắc phục.

7. Thay đổi công việc nhiều lần mà không có định hướng là sự lãng phí lớn nhất cuộc đời

Vương Trung Dương ở cuốn sách "Người tiếp thị tự tiếp thị" đã có phần "Định vị cuộc sống", trong đó viết rằng: Con người trong cuộc sống, hoặc phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hoặc theo hướng công nghiệp. Bạn không thể "nhảy" giữa các ngành nghề, vì việc thay đổi một cách mù quáng bất kể nghề nghiệp là sự lãng phí lớn nhất trong cuộc sống.

Theo Sohu
READ MORE
no image

Đó chính là hiểu được ý nghĩa và ý thức được mục đích trong công việc và cuộc sống. Các chuyên gia cũng đưa ra những câu hỏi gợi ý để giúp bạn xác định điều này.

Một nghiên cứu mới được công bố vào tháng Năm trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ của Đại học Michigan dựa trên các phân tích dữ liệu từ Nghiên cứu về Sức khỏe và Nghỉ hưu 27 năm đã khám phá ra được liều thuốc giúp con người sống hạnh phúc hơn và lâu hơn với công việc. Đó là sự tự ý thức được mục đích trong cuộc sống.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra những người tự ý thức mục đích sống thường sống lâu hơn so với những người ít thể hiện điều này ra.

Một nghiên cứu khác của Đại học Michigan vào năm 2010 cho thấy làm việc có ý thức và mục đích rõ ràng sẽ khiến động lực, năng suất và khả năng duy trì cao hơn rất nhiều.

Mục đích chính là câu trả lời sát sao nhất cho câu hỏi "Tại sao?".

Mục đích tạo cảm giác trách nhiệm, làm điều xứng đáng hơn với bản thân.

Mục đích gắn kết câu hỏi "bạn là ai" với câu hỏi "những gì bạn cần phải làm".

Mục đích truyền cảm hứng để bạn làm mới, thậm chí thay đổi lại các "cam kết" của bản thân trước đó và kéo dài thêm "list" cần làm hơn nữa.

Đó là lý do tại sao có ý thức về mục đích trong công việc lại có sức mạnh thay đổi cuộc đời một con người đến thế.

Nhưng làm thế nào để tự làm được điều này?

Rất đơn giản, hãy tự đánh giá bản thân.

Trong bài viết được đăng tải trên tạp chí Inc., Scott Mautz - nhà văn, cựu giám đốc điều hành cấp cao của P&G…, đã chia sẻ một số câu hỏi và chỉ cần những câu trả lời trung thực, bạn sẽ xác định được mục đích trong công việc cũng như cuộc sống.

1. Siêu năng lực của bạn là gì?

Câu hỏi này nghe có vẻ quá xa rời thực tế, nhưng không! Bạn nên biết những gì bạn thực sự giỏi và làm thế nào để có thể tận dụng được hết sức mạnh đó như một siêu anh hùng để làm điều tốt cho thế giới!

Khi bạn lựa chọn sử dụng sức mạnh siêu việt cho mục đích của mình thì sẽ còn có sức mạnh lớn hơn nâng bạn lên một vị trí siêu cường khác.

2. Giá trị và niềm tin của bạn là gì?

Điều bạn tin tưởng mạnh mẽ đến mức có thể ảnh hưởng đến hành động mỗi ngày là gì?

Sống đúng với những giá trị của bản thân là một trong những cách đơn giản và trực tiếp nhất.

Hơn thế nữa, khi mọi người ở nơi làm việc thấy bạn sống vô tư với giá trị của bản thân ngay cả trong lúc khó khăn thì điều này cũng có thể truyền cảm hứng đến họ.

3. Bạn sẽ làm không công điều gì?

Hãy chú ý đến những gì bạn mải mê làm mà quên bẵng thời gian. Bạn đang mơ mộng về việc gì?

Không ngờ khoảng thời gian tưởng lãng phí ấy lại mang đến nhiều hơn là mất. Đây có thể là tín hiệu của dự định hay ho nào đó và nếu theo đuổi quyết liệt hơn nữa thì chắc chắn kết quả là những trái thơm.

4. Những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của bạn là gì?

Bạn đã làm gì đặc biết trong những khoảnh khắc này và niềm vui từ đó mang đến cho bạn như thế nào? Hãy lưu giữ nguồn gốc của hạnh phúc vì đó có thể là "manh mối" trên con đường tìm kiếm mục đích cuộc sống.

5. Bạn đã học được gì từ những thành công trong sự nghiệp và chiến thắng?

Bước ngoặt sai lầm trong sự nghiệp không bao giờ là tồi tệ, mà đó chính là kinh nghiệm vô giá sẽ giúp bạn rất nhiều. Suy ngẫm về những gì đã làm trong cả thất bại và chiến thắng sẽ mang lại niềm vui. Bạn là ai trong thời gian đó? Bạn đã làm được và phải đánh đổi điều gì nổi trội để đạt được thành công này? Mục đích không nằm ngoài những câu hỏi này.

Bước ngoặt sai lầm trong sự nghiệp không bao giờ là tồi tệ, mà đó chính là kinh nghiệm vô giá sẽ giúp bạn rất nhiều. Suy ngẫm về những gì đã làm trong cả thất bại và chiến thắng sẽ mang lại niềm vui. Bạn là ai trong thời gian đó? Bạn đã làm được và phải đánh đổi điều gì nổi trội để đạt được thành công này? Mục đích không nằm ngoài những câu hỏi này.

6. Những việc cần làm là gì?

Vấn đề cần phải giải quyết là gì? Bạn có thể đáp ứng được nhu cầu gì của thế giới? Hãy chú ý đến những đích đến cao hơn, lớn hơn bạn và nội hàm của câu hỏi này. Mục đích của mỗi người nuôi dưỡng thứ lớn hơn những gì tưởng tượng.

7. Đồng nghiệp sẽ bỏ lỡ điều gi nếu bạn vắng mặt một hôm?

Câu hỏi này nói lên những đặc điểm từ tính đầy cảm hứng của bạn mà những người khác đều bị thu hút. Những gì bị bỏ lỡ chính là dấu hiệu nhận biết về điều bạn có thể duy trì và phục vụ cho những mục đích của bản thân.

8. Mọi người sẽ nói gì về các dự định của bạn?

Những chi tiết nào mà người khác cảm thấy buộc phải nói về sự vắng mặt của bạn? Họ nói gì về tài năng của bạn? Bạn đã bảo giờ nghe đến câu "Wow, bạn có thể là một..." chưa? Vẫn còn nhiều mảnh ghép trên con đường đến mục đích thật sự.

Vì vậy, có mục đích là để khám phá, kết nối, để sống và làm việc ý nghĩa hơn. Hơn nữa, hạnh phúc và sự hài lòng của bạn sẽ còn kéo dài mãi mãi.
READ MORE