Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020
no image

Vào đầu năm 2004, một nhà đầu tư cổ phiếu khác, Michael Burry, đã lần đầu tiên lao vào thị trường trái phiếu. Anh học mọi thứ có thể về cách thức vay và cho vay ở Mỹ. Anh không nói với bất cứ ai về nỗi ám ảnh mới của mình; anh chỉ ngồi một mình trong văn phòng, ở San Jose, California, đọc sách báo cũng như các hồ sơ tài chính. Đặc biệt, anh muốn biết trái phiếu thế chấp dưới chuẩn hoạt động như thế nào. Các khoản vay cá nhân nhiều đến mức xếp chồng thành tháp. Các tầng trên cùng được nhận lại tiền đầu tiên và vì thế cũng nhận được xếp hạng cao nhất từ Moody’s và S&P cùng mức lãi suất thấp nhất. Các tầng thấp nhận lại tiền cuối cùng, gánh chịu những khoản lỗ đầu tiên, và bị Moody’s và S&P xếp hạng thấp nhất. Do phải chịu nhiều rủi ro hơn nên các nhà đầu tư ở các tầng đáy nhận được lãi suất cao hơn so với những nhà đầu tư ở các tầng trên. Các nhà đầu tư mua trái phiếu thế chấp phải quyết định nên đầu tư vào tầng tháp nào, nhưng Michael Burry không nghĩ về việc mua trái phiếu thế chấp. Anh đang tự hỏi làm thế nào để có thể bán khống được trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Mỗi trái phiếu thế chấp đều đi kèm với một bản cáo bạch 130 trang tẻ nhạt. Burry đã dành khoảng thời gian cuối năm 2004 và đầu năm 2005 để xem qua hàng trăm và đọc kỹ vài chục trang trong đó. Chắc chắn ngoài các luật sư soạn ra chúng thì anh là người duy nhất làm điều này. Anh đã giải thích trong một bức thư điện tử như sau: Lấy ví dụ về trường hợp của NovaStar, một nhà cho vay thế chấp dưới chuẩn kiểu khởi tạo và bán, một nguyên mẫu vào thời điểm đó. Những cái tên (trái phiếu) sẽ là NHEL 2004-1, NHEL 2004-2, NHEL 2004-3, NHEL 2005-1, v.v... Ví dụ, NHEL 2004-1 gồm các khoản vay từ các tháng đầu năm 2004 và vài tháng cuối năm 2003, 2004-2 sẽ là những khoản vay giữa năm, còn 2004- 3 là những khoản vay ở các tháng cuối năm 2004. Bạn có thể lấy những bản cáo bạch này ra, và nhanh chóng kiểm tra được nhịp độ của những gì đang diễn ra ở khu vực thế chấp dưới chuẩn trong ngành công nghiệp khởi tạo và bán. Vào đầu năm 2004, các ARM chỉ trả lãi 2/28 chỉ chiếm 5,85% rổ, nhưng đến cuối năm 2004, chúng chiếm đến 17,48% rổ, và cuối mùa hè năm 2005 là 25,34%. Thế nhưng, điểm [tín dụng tiêu dùng] FICO trung bình cho rổ đó, tỷ lệ phần trăm của khoản vay không giấy tờ trên giá trị tài sản thế chấp và một số chỉ số khác lại gần như không đổi… Vấn đề là mặc dù chúng có thể không thay đổi, nhưng rổ thế chấp tổng thể màđang được ban hành, đóng gói và bán ra ngày càng trở nên tồi tệ về chất lượng, bởi với cùng số điểm FICO trung bình hoặc cùng một tỷ lệ vay trên giá trị tài sản thế chấp, bạn ngày càng nhận được tỉ lệ phần trăm các thế chấp chỉ trả lãi cao hơn. Vào đầu năm 2004, nếu nhìn vào các con số, bạn có thể thấy rõ sự suy giảm ở các tiêu chuẩn cho vay. Theo Burry, các tiêu chuẩn không chỉ giảm mà còn chạm đáy. Đáy này thậm chí có cả tên: thế chấp dưới chuẩn lãi suất thả nổi trả dần âm chỉ trả lãi. Bạn, người mua nhà, thực sự có thể không cần trả một xu nào, và dồn lãi vay bạn nợ ngân hàng vào số dư vốn gốc. Không khó để nhận ra kiểu người thích những khoản vay như vậy: người không có thu nhập. Nhưng Burry không thể hiểu tại sao người cho vay lại muốn mở rộng những khoản cho vay như vậy. “Bạn cần phải nhìn người cho vay, chứ không phải người đi vay,” anh nói. “Những người đi vay luôn sẵn sàng vay một khoản lớn. Chính những người cho vay mới là người đưa ra các giới hạn, và khi họ bỏ qua nó, hãy coi chừng.” Đến năm 2003, anh biết rằng những người đi vay đã bỏ qua nó. Đến đầu năm 2005, anh thấy rằng những người cho vay cũng đã làm điều tương tự. Nhiều nhà quản lý quỹ phòng hộ đã dành thời gian tán gẫu với các nhà đầu tư và coi những lá thư hàng quý của họ như một nghi thức. Burry không thích nói chuyện trực tiếp với mọi người và nghĩ những lá thư này là điều quan trọng duy nhất anh làm để cho các nhà đầu tư biết được dự định của anh. Trong các lá thư hàng quý, anh đặt ra một cụm từ mới để miêu tả những gì anh nghĩ sắp xảy ra: “mở rộng tín dụng bằng công cụ.” Nó có nghĩa là rất nhiều người thực ra không đủ khả năng để trả các khoản thế chấp của họ theo lối cũ, vì thế những người cho vay đang tưởng tượng ra những công cụ mới mà có thể hợp lý hóa việc tiếp tục cho những người này vay tiền. “Đó là dấu hiệu rõ ràng cho thấy người cho vay đã bỏ qua giới hạn, liên tục làm giảm các tiêu chuẩn của chính họ nhằm gia tăng lượng cho vay,” Burry nói. Anh có thể hiểu tại sao họ làm điều này: Họ không giữ các khoản vay mà bán chúng cho Goldman Sachs, Morgan Stanley, Wells Fargo và những công ty khác. Những công ty này sẽ đóng gói chúng thành trái phiếu và bán . Anh cho rằng, người mua cuối cùng các khoản thế chấp dưới chuẩn chỉ là những “đồng tiền ngu ngốc”. Anh sẽ tìm hiểu về họ, nhưng là sau này. Hiện anh gặp phải một vấn đề về đầu tư chiến thuật. Các tầng hay các tranche khác nhau của những trái phiếu thế chấp dưới chuẩn đều có một điểm chung: Trái phiếu không thể bán khống. Để bán khống một cổ phiếu hoặc trái phiếu, bạn cần phải vay nó, nhưng những tranche này rất nhỏ và khó tìm. Bạn có thể mua hoặc không mua chúng, nhưng bạn không thể đặt cược chống lại chúng một cách rõ ràng; thị trường thế chấp dưới chuẩn đơn giản là không có chỗ cho những người có cái nhìn mập mờ về chúng. Bạn có thể biết chắc rằng thị trường trái phiếu thế chấp dưới chuẩn sẽ sụp đổ, nhưng bạn sẽ chẳng thể tận dụng được gì từ việc đó. Bạn khôngthể bán khống những căn nhà. Bạn chỉ có thể bán khống cổ phiếu của những công ty xây dựng nhà ở – Pulte Homes, hoặc Toll Brothers – nhưng có giá rất đắt, mang tính gián tiếp và rủi ro cao. Giá cổ phiếu có thể tăng trong khoảng thời gian lâu hơn nhiều khoảng thời gian mà Burry có thể duy trì khả năng thanh toán. Một vài năm trước đó, anh đã phát hiện ra hợp đồng hoán đổi nợ xấu. Một hợp đồng hoán đổi nợ xấu khó hiểu chủ yếu bởi thật ra không hề có sự hoán đổi nào hết. Đó là một chính sách bảo hiểm, chủ yếu liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp, trong đó các khoản phí bảo hiểm được thanh toán nửa năm một lần và thời hạn cố định. Ví dụ, bạn có thể trả 200.000 đô-la/năm để mua một hợp đồng hoán đổi nợ xấu có thời hạn 10 năm cho 100 triệu đô-la trái phiếu General Electric. Khoản tiền tối đa bạn có thể mất là 2 triệu đô-la: 200.000 đô-la/năm trong 10 năm. Khoản tiền tối đa bạn có thể nhận được là 100 triệu đô-la, nếu General Electric vỡ nợ vào bất cứ thời điểm nào trong 10 năm đó và những người giữ trái phiếu của công ty không nhận lại được gì. Đây là một vụ đánh cược có tổng bằng 0: Nếu bạn kiếm được 100 triệu đô-la, người đã bán cho bạn hợp đồng hoán đổi nợ xấu sẽ mất 100 triệu đô-la. Đây cũng là một cuộc đánh cược bất đối xứng, giống như việc bạn đặt tiền vào một con số nào đó trong trò Rulet. Khoản tiền tối đa bạn có thể mất là những chip bạn đặt trên bàn, nhưng nếu bạn thắng cược, bạn sẽ nhận được gấp 30, 40, thậm chí 50 lần số tiền đã cược. “Hợp đồng hoán đổi nợ xấu giúp tôi khắc phục vấn đề rủi ro vô hạn,” Burry nói. “Nếu tôi mua một hợp đồng hoán đổi nợ xấu, phần lỗ của tôi đã được xác định và chắc chắn, trong khi phần lời lại lớn gấp bội.” Anh bước chân vào thị trường các hợp đồng hoán đổi nợ xấu doanh nghiệp. Vào năm 2004, anh bắt đầu mua bảo hiểm cho các công ty mà theo anh có thể sẽ bị ảnh hưởng lớn từ cuộc suy thoái bất động sản: những công ty cho vay thế chấp, những công ty bảo hiểm thế chấp, v.v... Việc này cũng không vừa ý hoàn toàn. Một cuộc khủng hoảng thị trường bất động sản có thể khiến các công ty này mất nhiều tiền của; nhưng không có gì đảm bảo rằng họ sẽ thực sự bị phá sản. Anh muốn có một công cụ trực tiếp hơn để đánh cược chống lại hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn. Vào ngày 19 tháng 3 năm 2005, khi ngồi một mình trong văn phòng, đọc một cuốn giáo trình sâu sắc về phái sinh tín dụng, Michael Burry nảy ra một ý tưởng: các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Ý tưởng này xuất hiện khi anh đọc một cuốn sách về sự phát triển của thị trường trái phiếu Mỹ và sự hình thành của các hợp đồng hoán đổi nợ xấu doanh nghiệp đầu tiên ở J.P. Morgan vào giữa những năm 1990. Anh đọc đến đoạn giải thích tại sao các ngân hàng cảm thấy họ thật sự cần các hợp đồng hoán đổi nợ xấu. Điều này không rõ ràng ngay lập tức – suy cho cùng, cách tốt nhất để tránh rủi ro của việc General Electric vỡ nợ là ngay từ đầu không cho GeneralElectric vay tiền. Ban đầu, các hợp đồng hoán đổi nợ xấu là một công cụ để phòng ngừa rủi ro: Một số ngân hàng đã cho General Electric vay nhiều hơn mức họ muốn theo yêu cầu của GE, và họ sợ khiến khách hàng lâu dài này phật lòng; một ngân hàng khác đã thay đổi suy nghĩ về sự khôn ngoan khi cho GE vay vốn. Tuy nhiên, những sản phẩm phái sinh tín dụng mới này đã nhanh chóng trở thành các công cụ đầu cơ: Rất nhiều người muốn đặt cược vào khả năng vỡ nợ của GE. Điều này đã khiến Burry bừng tỉnh: Phố Wall chắc chắn sẽ làm điều tương tự với các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Dựa trên những gì đang xảy ra trong thị trường bất động sản – và những gì các nhà cho vay thế chấp dưới chuẩn đang làm – rất nhiều người thông minh cuối cùng sẽ muốn đặt cược vào trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Và cách duy nhất để làm điều đó là mua hợp đồng hoán đổi nợ xấu. Hợp đồng hoán đổi nợ xấu sẽ giải quyết vấn đề lớn nhất duy nhất bằng ý tưởng tuyệt vời của Mike Burry: thời điểm. Anh cảm thấy các khoản vay thế chấp dưới chuẩn được thực hiện vào đầu năm 2005 gần như chắc chắn sẽ trở thành nợ xấu. Nhưng do lãi suất của chúng được đặt cố định ở mức thấp trong 2 năm đầu nên phải sau 2 năm thì điều đó xảy ra. Các thế chấp dưới chuẩn gần như luôn phải chịu lãi suất thả nổi, nhưng hầu hết chúng lại xuất hiện dưới dạng lãi suất “trêu tức” với hai năm đầu ở mức cố định. Một thế chấp được tạo ra vào đầu năm 2005 có thể có lãi suất “cố định” hai năm đầu là 6%, nhưng đến năm 2007, lãi suất này có thể nhảy lên 11% và kích thích làn sóng vỡ nợ. Âm thanh tích tắc mờ nhạt của các khoản vay này lớn dần theo thời gian, cho đến khi nhiều người sẽ nghi ngờ, như anh đã nghi ngờ, rằng chúng là những quả bom. Một khi điều này xảy ra, sẽ không còn ai sẵn sàng bán bảo hiểm cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn nữa. Anh cần phải đặt chip của mình lên mặt bàn ngay bây giờ rồi chờ sòng bạc tỉnh lại và thay đổi tỉ lệ cược của trò chơi. Một hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho trái phiếu thế chấp dưới chuẩn 30 năm, xét về lý thuyết, chính là một vụ đặt cược được thiết kế để kéo dài trong 30 năm. Anh đã chỉ ra rằng thực tế chỉ cần 3 năm để trả hết nó. Vấn đề duy nhất đó là không có cái gì được gọi là hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho các trái phiếu thế chấp dưới chuẩn, không phải cái mà anh có thể thấy. Anh cần phải thúc ép các công ty lớn ở Phố Wall tạo ra chúng. Nhưng là các công ty nào? Nếu anh đúng và thị trường nhà đất sụp đổ, thì những công ty ở tâm của thị trường chắc chắn sẽ mất rất nhiều tiền. Việc mua bảo hiểm từ một ngân hàng sẽ thoát khỏi ngành đúng lúc bảo hiểm có giá trị cũng chả có ý nghĩa gì. Anh thậm chí không buồn kêu gọi Bear Stearns và Lehman Brothers bởi họ dính líu nhiều đến thị trường trái phiếu thế chấp hơn bất cứ công ty nào khác. Theo anh, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Deutsche Bank, Bank of American, UBS, Merrill Lynch và Citigroup có khả năng sống sót qua cuộc sụp đổ này nhiều nhất. Anh gọi cho tất cả họ. 5 trong số các công ty này khôngbiết anh đang nói về điều gì; 2 trong số đó quay trở lại và nói, điều đó có thể diễn ra vào một ngày nào đó khi thị trường không tồn tại. Trong 3 năm, các hợp đồng hoán đổi nợ xấu cho trái phiếu thế chấp dưới chuẩn sẽ trở thành thị trường hàng nghìn tỉ đô-la và sẽ tạo ra những khoản lỗ trị giá hàng trăm tỉ đô-la bên trong các công ty lớn ở Phố Wall. Tuy nhiên, khi Michael Burry làm phiền các công ty này vào đầu năm 2005, chỉ có Deutsche Bank và Goldman Sachs thực sự quan tâm đến cuộc nói chuyện. Còn không ai ở Phố Wall, theo như anh biết, nhìn thấy những gì anh đang thấy. Từ khi còn học tiểu học, khi cha anh chỉ cho anh thấy các bảng chứng khoán ở mặt sau của tờ báo và nói với anh rằng thị trường cổ phiếu là nơi dối trá và không bao giờ đáng tin, chứ đừng nói đến việc đầu tư vào đó, thì chủ đề này đã cuốn hút anh. Ngay từ lúc đó, anh đã muốn áp đặt logic vào thế giới của những con số này. Anh bắt đầu coi việc đọc về thị trường cổ phiếu là một sở thích. Anh không mất nhiều thời gian để nhận ra rằng không hề có logic nào tồn tại trong các bảng, đồ thị, các đợt sóng hay trong các cuộc trò chuyện bất tận của những tay tự cho mình là chuyên gia về thị trường. Sau đó bong bóng dot-com xảy ra và đột nhiên toàn bộ thị trường cổ phiếu trở nên vô lý đến tột độ. “Vào cuối những năm 1990, tôi gần như đã buộc phải tự cho mình là một nhà đầu tư giá trị, bởi tôi nghĩ những thứ mọi người đang làm thật điên rồ,” anh nói. Nhờ có Benjamin Graham, “đầu tư giá trị” được chính thức công nhận là một cách tiếp cận thị trường tài chính trong suốt thời kỳ Đại Suy Thoái. Nó đòi hỏi một cuộc tìm kiếm không mệt mỏi các công ty đã lỗi thời hoặc bị hiểu nhầm rằng chúng có thể được mua với giá thấp hơn giá trị thanh lý của chúng. Ở dạng thức đơn giản nhất, đầu tư giá trị là một công thức, nhưng nó đã biến thành những thứ khác – một trong số đó là bất cứ điều gì mà Warren Buffett, học trò của Benjamin Graham, nhà đầu tư giá trị nổi tiếng nhất, đã tình cờ làm với đồng tiền của mình. Burry không nghĩ rằng đầu tư có thể được rút gọn thành một công thức hay được học hỏi từ bất cứ mô hình hình mẫu nào. Anh càng tìm hiểu về Buffett, anh càng không thể nghĩ rằng có thể sao chép được Buffett; quả thật vậy, Buffett dạy bạn rằng: Để thành công một cách ngoạn mục, bạn phải bất thường một cách ngoạn mục. “Nếu bạn định trở thành một nhà đầu tư vĩ đại, bạn phải tạo ra một phong cách hợp với bản thân mình,” Burry nói. “Có lúc, tôi nhận thấy rằng Warren Buffett, dù có được mọi lợi thế trong việc học hỏi Ben Graham, nhưng ông không hề sao chép Ben Graham, mà thay vào đó đặt ra con đường cho riêng mình, quản lý đồng tiền theo cách của mình, bằng các quy tắc riêng… Tôi cũng ngay lập tức tiếp thu ý kiến cho rằng không trường học nào có thể dạy ai đó cách trở thành nhà đầu tư vĩ đại. Nếu có, chắc chắn đó sẽ là ngôi trường nổi tiếng nhất thế giới, với học phí cao đến mức không tưởng. Vì thế, chắc chắn là không có.”Đầu tư là việc bạn phải học cách tự thực hiện, theo một cách kỳ lạ của riêng bạn. Burry không có tiền để đầu tư, nhưng anh vẫn mang theo nỗi ám ảnh này trong suốt những năm tháng học trung học, cao đẳng rồi đại học y khoa. Anh vào làm ở Bệnh viện Stanford mà không tham gia bất cứ lớp học tài chính hay kế toán nào, chứ đừng nói đến việc làm việc cho bất kỳ một công ty Phố Wall nào. Anh có khoảng 40.000 đô-la tiền mặt, nợ các khoản vay sinh viên khoảng 145.000 đô-la. Anh là bác sỹ thực tập trong 4 năm qua. Tuy nhiên, anh đã tìm được thời điểm để trở thành một chuyên gia tài chính. Vào một đêm muộn tháng 11 năm 1996, khi thay ca ở khoa Tim, bệnh viện St. Thomas, ở Nashville, Tennessee, anh đã đăng nhập vào một máy tính của bệnh viện để tiếp cận bảng thông báo mang tên techstocks.com. Anh đã tạo ra một chủ đề có tên là đầu tư giá trị ở đây. Sau khi đọc xong mọi thứ về đầu tư có trên này, anh quyết định tìm hiểu thêm về “đầu tư thực.” Hội chứng cuồng cổ phiếu Internet đang thống lĩnh thị trường. Một trang web dành cho các nhà đầu tư ở thung lũng Silicon vào khoảng năm 1996 không phải là một ngôi nhà tự nhiên dành cho các nhà đầu tư giá trị nghiêm túc. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tham gia và đưa ra mọi ý kiến về chủ đề. Một vài người phàn nàn về việc một bác sĩ thì biết gì về đầu tư, nhưng dần dần, anh đã làm chủ được cuộc thảo luận. Tiến sĩ Mike Burry – như anh luôn tự nhận – cảm nhận rằng những người khác tham gia chủ đề đang nghe theo lời khuyên của anh và kiếm tiền từ đó. Khi nhận ra không còn gì để học hỏi từ mọi người trên diễn đàn, anh đã bỏ nó để tạo ra thứ sau này được gọi là blog nhưng ở thời điểm đó chỉ là một dạng giao tiếp kỳ lạ. Anh làm ca 16 tiếng tại bệnh viện, chỉ viết blog từ nửa đêm đến 3 giờ sáng. Trong blog, anh đăng các giao dịch thị trường cổ phiếu của mình cũng như các lập luận về việc thực hiện các giao dịch đó. Mọi người đã tìm thấy anh. Như một quản lý tài chính tại một quỹ giá trị lớn ở Philadelphia chia sẻ, “Điều đầu tiên tôi tự hỏi là, Anh ta làm điều này lúc nào? Anh chàng này là bác sỹ thực tập. Tôi chỉ thấy phần thời gian không liên quan đến y khoa của anh ấy, nó thật tuyệt vời. Anh ấy đang cho mọi người xem các giao dịch của mình. Và mọi người làm theo nó ở ngoài đời thực. Anh ấy đang đầu tư giá trị – ở trung tâm của bong bóng dot-com. Anh ấy đang mua các cổ phiếu giá trị, đó là những gì chúng tôi đang làm. Nhưng chúng tôi đang đánh mất tiền. Chúng tôi đang đánh mất khách hàng. Đột nhiên, anh ấy đi theo vết rách này. Anh ấy tăng 50%. Điều đó thật kỳ lạ. Anh ấy thật kỳ lạ. Và chúng tôi không phải là những người duy nhất dõi theo nó.” Mike Burry không thể biết chính xác ai đang theo dõi các động thái tài chính của mình, nhưng anh có thể nói họ đến từ lĩnh vực nào. Ban đầu, các độc giả của anh đến từ EarthLink và AOL. Chỉ là những cá nhân ngẫu nhiên. Tuy nhiên, ngay sau đó không còn như vậy nữa. Những ngườighé thăm trang của anh đến từ các quỹ tương hỗ như Fidelity và các ngân hàng đầu tư lớn ở Phố Wall như Morgan Stanley. Một ngày nọ, anh tấn công vào các quỹ chỉ số của Vanguard và gần như ngay lập tức nhận được yêu cầu chấm dứt từ các luật sư của Vanguard. Burry ngờ rằng các nhà đầu tư nghiêm túc có thể đang làm theo các bài đăng trên blog của anh, nhưng anh không thể biết họ là ai. “Thị trường đã tìm thấy anh ấy,” người quản lý quỹ tương hỗ ở Philadelphia nói. “Anh ấy phát hiện ra những khuôn mẫu mà không ai nhìn thấy.” Khi Burry chuyển đến bệnh viện Stanford vào năm 1998 ở vị trí bác sĩ nội trú làm việc tại khoa thần kinh học, công việc anh làm từ nửa đêm đến 3 giờ sáng đã tạo nên một trung tâm nhỏ nhưng đầy ý nghĩa trong vùng đất đầu tư giá trị. Đến thời điểm này, cơn sốt cổ phiếu Internet đã hoàn toàn mất kiểm soát và lây lan sang cả cộng đồng y khoa Đại học Stanford. “Những bác sĩ nội trú nói riêng, và một vài người ở bộ phận khác, đã bị cuốn vào cơn sốt dot-com,” Burry nói. “Một thiểu số những con người lịch sự trong số họ đang mua và thảo luận về mọi thứ. Tôi chỉ im lặng, bởi tôi không muốn bất cứ ai biết tôi đang làm gì ngoài giờ. Tôi nghĩ mình có thể gặp rắc rối lớn nếu các bác sĩ ở đó biết tôi không toàn tâm toàn ý với y khoa.” Những người lo lắng về việc phải gắn bó với ngành y có thể không toàn tâm toàn ý với nó. Càng đi sâu vào sự nghiệp y khoa, Burry càng cảm thấy bối rối với các vấn đề về giao tiếp giữa anh và những người khác. Anh cố gắng trong một thời gian ngắn, náu mình ở khoa nghiên cứu bệnh lý, nơi mọi người rất kiệm lời, nhưng vẫn không hiệu quả. Anh trở lại San Jose, chôn cất cha mình, tái hôn và bị các chuyên gia chuẩn đoán sai là một người lưỡng cực khi anh đóng cửa trang web của mình, đồng thời thông báo rằng anh sẽ từ bỏ thần kinh học để trở thành nhà quản lý tiền tệ. Trưởng khoa Thần Kinh học của Bệnh viện Stanford nghĩ anh mất trí và khuyên anh nên dành một năm để nghĩ kĩ hơn, nhưng anh đã nghĩ rất kĩ rồi. Anh nói, “Tôi thấy thật hấp dẫn và có vẻ là lựa chọn đúng đắn,” anh nói, “khi nghĩ rằng nếu tôi có thể điều hành một danh mục đầu tư tốt, thì tôi có thể thành công trong cuộc sống, và rằng nó không quan tâm tôi bị coi là kiểu người gì, mặc dù sâu bên trong tôi cảm thấy tôi là một người tốt.” Tài sản 40.000 đô-la so với 145.000 đô-la tiền nợ các khoản vay sinh viên của anh đã dấy lên một câu hỏi rằng chính xác anh sẽ quản lý danh mục đầu tư nào. Bố anh mất sau một chẩn đoán nhầm khác: Một bác sĩ đã không thể phát hiện ra khối ung thư trên phim chụp X-quang, và gia đình anh đã nhận được một khoản tiền bồi thường nhỏ. Người cha không ủng hộ anh bước chân vào thị trường chứng khoán, nhưng tiền bồi thường cho cái chết của ông đã giúp con trai mình làm được điều đó. Mẹ anh góp 20.000 đô-la, 3 anh em anh góp mỗi người 10.000 đô-la. Với số vốn đó, Tiến sĩ Michael Burry đã mở Quỹ Scion. (Từ khi còn là một cậu bé, anh đã thích cuốn sách The Scions of Shannara.) Anh thảo ra một bản thông báo rất long trọngđể thu hút nhà đầu tư bên ngoài. Bản thông báo có ghi: “Các nhà đầu tư có thể đóng góp tối thiểu là 15 triệu đô-la.” Điều này rất thú vị, bởi nó loại trừ không chỉ anh mà cả những người anh đã từng biết qua. Khi đang xoay xở tìm địa điểm đặt văn phòng, mua đồ nội thất, và mở tài khoản môi giới, anh nhận được 2 cuộc điện thoại bất ngờ. Đầu tiên là từ một quỹ đầu tư lớn ở New York, Gotham Capital. Gotham được một bậc thầy về đầu tư giá trị có tên là Joel Greenblatt thành lập. Burry đã từng đọc cuốn sách của Greenblatt mang tên You Can Be a Stock Market Genius (tạm dịch: Bạn có thể trở thành thiên tài trong thị trường chứng khoán). (“Tôi ghét tiêu đề sách nhưng rất thích nội dung cuốn sách này.”) Nhân viên của Greenblatt nói với anh rằng thi thoảng, họ kiếm được tiền từ các ý tưởng của anh và muốn tiếp tục làm điều đó – Liệu Mike Burry có cân nhắc để Gotham đầu tư vào quỹ của anh? “Đích thân Joel Greenblatt gọi và nói, ‘Tôi đợi anh bỏ nghề y lâu rồi.’” Gotham mời Burry và vợ anh đến New York – và đó là lần đầu tiên Michael Burry được ngồi máy bay tới New York ở ghế hạng thương gia – và đón anh đến ở khách sạn Intercontinental. Trên đường đến gặp Greenblatt, Burry bồn chồn, phát điên vì lo lắng, thứ cảm xúc vốn luôn cản trở anh trước các cuộc gặp trực tiếp với mọi người. Anh cảm thấy dễ chịu hơn chút khi biết người ở Gotham đã đọc khá nhiều những gì anh viết. “Nếu anh đọc những gì tôi viết trước, và sau đó gặp tôi, thì cuộc gặp sẽ diễn ra tốt đẹp,” anh nói. “Những người gặp tôi mà chưa đọc những gì tôi viết – thì cuộc gặp sẽ không bao giờ suôn sẻ. Ngay ở trường trung học cũng vậy – thậm chí với cả các giáo viên.” Anh đang trải qua một cuộc khảo sát mù: Bạn phải quyết định xem liệu bạn có tán thành với anh ta không trước khi bạn gặp anh ta. Trong trường hợp này, anh gặp phải một bất lợi nghiêm trọng, bởi anh không biết các nhà quản lý tiền tệ thành công này ăn mặc thế nào. “Anh ấy gọi cho tôi vào ngày trước cuộc gặp mặt,” một trong những người bạn qua e-mail của anh nói, người vốn là một nhà quản lý tiền tệ chuyên nghiệp. “Và anh ấy hỏi, ‘Tôi nên ăn vận như thế nào?’ Anh ấy thậm chí còn không có cà vạt. Anh ấy có một chiếc áo khoác thể thao màu xanh, chuyên để tham dự tang lễ.” Đây cũng là một tật khác của Mike Burry. Trong các bài viết, anh thể hiện mình rất trang trọng, thậm chí có phần cứng nhắc, nhưng anh lại ăn vận rất suồng sã. Trên đường đi bộ tới văn phòng của Gotham, anh vội vàng ghé vào một cửa hàng Tie Rack và mua tạm một chiếc cà vạt. Anh đến công ty quản lý tài chính lớn của New York với trang phục trang trọng nhất từ trước tới nay chỉ để thấy rằng những người tiếp đón anh mặc mỗi áo phông và quần thể thao. Cuộc trao đổi sau cũng có vẻ giống kiểu như vậy.“Chúng tôi sẽ đầu tư cho anh 1 triệu đô-la.” “Hả?” “Chúng tôi muốn mua 1/4 quỹ phòng hộ mới của anh với giá 1 triệu đô-la.” “Ông nói thật chứ?” “Thật. Chúng tôi đang đưa ra đề nghị 1 triệu đô-la.” “Sau thuế!” Bằng cách nào đó, Burry đã nghĩ rằng một ngày nào đó anh muốn quỹ có giá trị 1 triệu đô-la, sau thuế. Dù sao đi nữa, anh cũng đã vừa mới thốt lên điều đó trước khi anh kịp hiểu họ đang theo đuổi điều gì. Và họ đã đồng ý thỏa thuận! Ở thời điểm đó, dựa vào những gì anh viết trên blog, thì anh, từ một sinh viên y khoa nợ nần với tài sản âm 105.000 đô-la, đã trở thành một triệu phú với vài khoản nợ nhỏ. Burry không biết đó là lần đầu tiên Joel Greenblatt làm một điều như vậy. “Anh ta rõ ràng một chàng trai tài giỏi và không có nhiều người như vậy,” Greenblatt nói. Một thời gian ngắn sau cuộc gặp gỡ kỳ lạ, anh nhận được cuộc gọi từ công ty bảo hiểm White Mountains. White Mountains được điều hành bởi Jack Byrne, một thành viên trong vòng tròn nội bộ của Warren Buffett, và họ đã từng nói chuyện với Gotham Capital. “Chúng tôi không biết anh đang bán một phần công ty của anh,” họ nói – và Burry giải thích rằng anh cũng không nhận ra điều đó cho đến tận một vài ngày trước đây, khi có người đưa ra đề nghị 1 triệu đô-la sau thuế để mua nó. Hóa ra White Mountains cũng quan sát Michael Burry rất kỹ. “Điểm hấp dẫn nhất đối với chúng tôi đó là anh ta là một bác sĩ nội trú thần kinh,” Kip Oberting đã nói tại White Mountains. “Anh ta làm điều chết tiệt đó khi nào?” Anh nhận được 600.000 đô-la từ White Mountains để đổi lấy một phần nhỏ hơn trong quỹ của anh ấy, cộng thêm một lời hứa sẽ đầu tư thêm 10 triệu đô-la. Oberting nói, “Đúng vậy, anh ấy là người duy nhất chúng tôi tìm thấy trên Internet, gọi điện và đầu tư tiền.” Trong năm đầu tiên kinh doanh, tiến sĩ Mike Burry đã phải vật lộn trong một thời gian ngắn với khía cạnh xã hội của hoạt động quản lý tiền. “Nhìn chung, bạn sẽ không thể gọi được vốn trừ khi bạn giao tiếp giỏi,” anh nói, “và nhìn chung, tôi là người không muốn tiếp xúc với nhiều người. Những người làm với tôi nhìn chung cũng nhận thấy điều đó.” Anh đến dự một hội nghị do Bank of American tổ chức để giới thiệu các nhà quản lý quỹ mới với các nhà đầu tư giàu có, và những người tham dự cũng đều nhận ra điều đó. Anh đưa ra một bài phát biểu trong đó lậpluận rằng cách họ đánh giá rủi ro rất ngớ ngẩn. Họ đo lường rủi ro bằng biến động: cổ phiếu hoặc trái phiếu lên xuống như thế nào trong những năm vừa qua. Rủi ro thực sự không phải là biến động; rủi ro thực sự chính là các quyết định đầu tư ngu xuẩn. Sau đó, anh kết luận, “rốt cuộc, người giàu nhất trong những người giàu và những người đại diện cho họ đã chấp nhận rằng hầu hết các nhà quản lý chỉ ở mức trung bình, còn những người giỏi hơn có thể đạt được lợi tức trung bình với mức biến động dưới trung bình. Theo logic này, 1 đô-la có giá 50 xu ngày hôm nay, 60 xu ngày tiếp theo và 40 xu ngày tiếp theo nữa, bằng cách nào đó, sẽ có giá trị thấp hơn 1 đô-la có giá 50 xu trong cả 3 ngày. Tôi lại cho rằng khả năng mua được ở mức giá 40 xu là một cơ hội, chứ không phải rủi ro, và đồng đô-la đó vẫn có giá trị là 1 đô-la.” Tất cả mọi người đều im lặng và bữa trưa đó, anh ăn một mình. Anh ngồi ở một chiếc bàn tròn rất lớn và quan sát mọi người trò chuyện vui vẻ ở các bàn xung quanh. Khi anh nói chuyện trực tiếp với mọi người, anh không thể biết cái gì đã khiến họ lảng tránh anh, lời anh nói hay con người anh. Anh đã tìm hiểu rất kĩ về Warren Buffett, người mà bằng cách nào đó vừa thành công vừa được mọi người mến mộ. Buffett cũng gặp khó khăn khi giao tiếp với mọi người khi còn trẻ. Ông đã tham dự một khóa học của Dale Carnegie để hiểu thêm về cách tương tác hiệu quả với mọi người xung quanh. Mike Burry trưởng thành trong một nền văn hóa tiền tệ hoàn toàn khác biệt. Internet đã thay thế Dale Carnegie. Anh không cần phải gặp gỡ mọi người. Anh có thể nói về bản thân qua mạng và chờ các nhà đầu tư tìm đến mình. Anh có thể viết ra những suy nghĩ phức tạp của bản thân và chờ mọi người đọc chúng rồi gửi tiền của họ đến nhờ anh quản lý. “Buffett quá đỗi nổi tiếng đối với tôi,” Burry nói. “Tôi sẽ không thể nào trở thành người tốt.” Phương pháp gọi vốn này phù hợp với Mike Burry. Hơn thế nữa, nó rất hiệu quả. Anh bắt đầu xây dựng Quỹ Scion với hơn 1 triệu đô-la – số tiền đầu tư từ mẹ, các anh em và 1 triệu đô-la sau thuế của riêng anh. Trong cả năm đầu tiên, năm 2001, S&P 500 giảm 11,88%. Scion tăng 55%. Trong năm tiếp theo, S&P 500 lại giảm 22,1%, tuy nhiên, Scion lại tăng 16%. Năm tiếp theo, năm 2003, thị trường chứng khoán cuối cùng cũng lội ngược dòng và tăng 28,69%, nhưng Mike Burry đã đánh bại nó một lần nữa – các khoản đầu tư của anh tăng 50%. Đến cuối năm 2004, Mike Burry quản lý 600 triệu đô-la và đang bỏ bớt tiền đi. “Nếu anh ta điều hành quỹ của mình chỉ để tối đa hóa số tiền anh ta đang quản lý thì anh ta có thể đã đang quản lý nhiều tỷ đô-la,” một nhà quản lý quỹ phòng hộ New York, người quan sát hoạt động của Burry với sự ngờ vực ngày càng tăng, đã nhận xét. “Anh ta đã thiết kế ra Scion sao cho nó kinh doanh thì tồi nhưng đầu tư thì tốt.” “Dù huy động vốn có thể là một cuộc thi về mức độ được hâm mộ,” Burry viết cho các nhà đầutư, có lẽ là để trấn an họ rằng họ có yêu mến nhà quản lý tài chính của họ, hoặc thậm chí có biết anh hay không đều không quan trọng, “nhưng đầu tư thông minh thì hoàn toàn ngược lại.” Warren Buffett có một đối tác khá hóm hỉnh sâu cay, Charlie Munger, người rõ ràng không màng đến việc mọi người có yêu quý mình hay không nhiều như Buffett. Trở lại năm 1995, Munger đã có một buổi nói chuyện tại Trường Kinh doanh Harvard mang tên “Tâm lý học về những đánh giá sai lầm của con người.” Munger nói, nếu bạn muốn dự đoán cách cư xử của mọi người, hãy quan sát những động cơ của họ. FedEx không thể khiến các ca làm việc ban đêm kết thúc đúng giờ; họ thử mọi cách để tăng tốc nhưng không hiệu quả – cho đến khi họ thôi không trả lương công nhân làm việc ca đêm theo giờ và trả lương theo ca. Xerox đã chế tạo ra một chiếc máy mới và tốt hơn chỉ để thấy rằng nó bán kém hơn những chiếc máy cũ – cho đến khi họ nhận ra đội ngũ kinh doanh nhận được mức hoa hồng lớn hơn khi bán được một chiếc máy cũ. “Anh có thể nói, ‘Tất cả mọi người đều biết điều đó,’” Munger cho hay. “Tôi nghĩ mình thuộc nhóm 5% những người ở tầm tuổi tôi đã dành trọn cuộc đời để tìm hiểu sức mạnh của những động cơ và tôi đã đánh giá quá thấp về chúng trong suốt cuộc đời mình. Không năm nào qua đi mà tôi không nhận được một vài sự ngạc nhiên giúp đẩy giới hạn của tôi xa thêm chút nữa.” Những chia sẻ của Munger có nhiều điểm tương đồng với niềm tin của Mike Burry về các thị trường và những người liên quan trong đó. Burry nói, “Tôi đọc bài phát biểu đó và nói, tôi đồng ý hoàn toàn với những gì được viết trong đó.” Burry có một góc nhìn riêng về chủ đề này, được tích lũy từ quãng thời gian anh dành cho y khoa. Ngay cả trong những tình huống sống còn, các bác sĩ, y tá và bệnh nhân đều bị ảnh hưởng bởi những động cơ mang tính tiêu cực. Ví dụ, ở trong các bệnh viện nơi tỉ lệ bồi hoàn cho thủ thuật cắt bỏ ruột thừa cao hơn, thì các bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ nhiều ruột thừa hơn. Vì vậy, khi Mike Burry kinh doanh, anh phải đảm bảo rằng mình có những động cơ hợp lý. Anh không chấp nhận thỏa thuận của những nhà quản lý quỹ phòng hộ điển hình. Hầu hết họ được nhận 2% giá trị tài sản nên việc duy nhất họ cần làm là chất đống tiền của những người khác. Quỹ Scion chỉ tính các chi phí thực cho các nhà đầu tư – luôn ở mức thấp hơn 1% giá trị tài sản. Để thu lãi cho mình, anh phải khiến tiền của các nhà đầu tư sinh lời. “Hãy nghĩ về sự hình thành của Scion,” một trong những nhà đầu tư đầu tiên của anh nói. “Gã đó không có tiền và anh ta chọn cách từ chối một khoản phí mà bất cứ quỹ phòng hộ nào khác coi là đương nhiên. Đây là một điều chưa từng được nghe nói đến.” Ngay từ đầu, Quỹ Scion đã thành công đến mức khó tin. Vào giữa năm 2005, suốt giai đoạn màchỉ số thị trường chứng khoán nhìn chung giảm xuống 6,84% thì quỹ của Burry tăng trưởng 242% và bắt đầu từ chối các nhà đầu tư. Với lượng khách hàng càng ngày tăng, nó dường như không quan tâm đến việc thị trường cổ phiếu tăng hay giảm; Mike Burry luôn tìm được điểm đầu tư tiền một cách khôn ngoan. Anh không dùng đòn bẩy và tránh bán khống cổ phiếu. Anh không làm gì có tiềm năng ngoài việc mua các cổ phiếu phổ thông và không làm gì phức tạp hơn việc ngồi trong phòng và đọc các bản báo cáo tài chính. Với mức phí 100 đô-la/năm, anh trở thành người đăng ký sử dụng của 10-K Wizard. Bộ máy ra quyết định của Quỹ Scion gồm một chàng trai ở trong phòng, luôn đóng cửa, ngồi trong yên lặng, miệt mài nghiên cứu các thông tin có sẵn công khai và các dữ liệu trên 10-K Wizard. Anh đi tìm các phán quyết của toàn án, hoàn tất thỏa thuận hoặc những thay đổi trong quy định của chính phủ – bất cứ điều gì có thể làm thay đổi giá trị của một công ty. Thường thì anh tìm ra những thứ mà anh gọi là các vụ đầu tư “khiếp.” Vào tháng 10 năm 2001, anh giải thích khái niệm này trong bức thư gửi cho các nhà đầu tư: “Đầu tư khiếp tức là quan tâm đặc biệt về mặt phân tích đến các cổ phiếu mà mang lại phản ứng đầu tiên là ‘khiếp!’” Avant! Corporation là một ví dụ hấp dẫn. Anh tìm thấy nó khi tìm kiếm từ khóa “được chấp nhận” trong các mẩu tin tức. Anh biết rằng, là người đứng bên lề sân chơi, anh cần phải tìm những cách không chính thống để kéo nghiêng nó theo lợi thế của mình, và điều đó luôn có nghĩa là tìm kiếm các tình huống bất thường mà cả thế giới không chú ý đến. “Tôi không tìm các tin tức về lừa đảo hay gian lận,” anh nói. “Đó là nhìn về phía sau, còn tôi đang muốn đi trước. Tôi đang tìm thứ gì đó xảy ra trong các toà án mà có thể dẫn đến một ý tưởng đầu tư. Một lập luận được chấp nhận, một lời bào chữa được chấp nhận, một phương án giải quyết được chấp nhận bởi tòa án.” Một tòa án đã chấp nhận lời bào chữa từ một công ty phần mềm có tên là Avant! Corporation. Avant! bị buộc tội đánh cắp mã phần mềm được coi là nền tảng kinh doanh của Avant! từ công ty đối thủ. Công ty này có 100 triệu đô-la tiền mặt trong ngân hàng, hàng năm vẫn đang tạo ra khoảng 100 triệu đô-la dòng tiền mặt tự do – và có giá trị thị trường chỉ 250 triệu đô-la! Michael Burry bắt đầu tìm hiểu sâu hơn; đến khi hoàn thành, anh biết nhiều hơn về Avant! Corporation hơn bất cứ ai. Anh có thể nhận thấy rằng ngay cả khi các giám đốc điều hành phải đi và phải đóng tiền phạt, thì Avant! vẫn có giá trị cao hơn mức mà thị trường lúc đó ước tính. Hầu hết các kĩ sư của công ty đều ghi quốc tịch Trung Quốc trên thị thực làm việc, và do đó bị mắc kẹt – không có rủi ro liên quan đến việc bất cứ ai có thể bỏ việc trước khi sự thật được tìm ra. Tuy nhiên, để kiếm tiền trên cổ phiếu của Avant!, anh có thể phải chịu tổn thất trong ngắn hạn, bởi các nhà đầu tư đang bán tháo cổ phiếu khi hoảng hốt phát hiện ra những điểm tiêu cực được công khai.
READ MORE
Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2020
no image

Paul Samuelson yêu trường Đại học Harvard. Tình yêu ấy hoàn toàn không có gì có thể thay thế được. Ở tuổi hai mươi lăm, số lượng công trình nghiên cứu đăng trên các báo của anh thậm chí còn nhiều hơn số tuổi đó. Tuy nhiên, vị trí của anh dường như vẫn còn thấp kém tại Harvard, nơi người ta xếp anh vào vị trí trợ giảng môn kinh tế học, một vị trí có mức lương thấp. Chiếc ghế giảng viên là một viễn cảnh xa vời. Một trong các đồng nghiệp của Samuelson đã được đề bạt lên làm giảng viên vì bản thân người này có một khiếm khuyết - anh ta xuất thân từ vùng Kansas. Còn Samuclson lại xuất thân từ Gary, bang Indiana. Người Kansas không phải là người Do Thái, trong khi Samuclson là người Do Thái.

Năm 1940, Samuelson đã nhận lời mời để chuyển đến mạn cuối bên kia của vùng Cambridge cách đó ba dặm. MIT là một viện chuyên về các môn khoa học và đào tạo kỹ sư, dường như không hề có một khoa nào về kinh tế học cũng như các khóa đào tạo lãnh đạo kinh tế hay chính trị cho nước Mỹ. Trong thời kỳ mà các trường đại học danh tiếng ở phía đông nước Mỹ âm thầm chống lại cộng đồng Do Thái, "chủ trương ngoại lệ" của MIT chính là họ sẵn sàng tuyển dụng một người trong cộng đồng này, miễn là anh ta thông minh.

Sự tập trung vào kỹ thuật của MIT rất phù hợp với tài năng của Samuelson. Samuelson chọn hướng nghiên cứu kinh tế như một môn khoa học toán. Đó là phương pháp tiếp cận đi ngược lại những thông lệ thời ấy. Từ thời Adam Smith đến John Maynard Keynes, kinh tế học đa phần chỉ là những bài thảo luận. Ớ Harvard, kinh tố hục cùng vẫn được nghiên cứu theo phương pháp luận. Nhưng tại MIT, Samuelson phát triển nó thành toán học.

Samuelson thoải mái với các phương trình vi phân như một nhà vật lý vậy. Giấy tờ nghiên cứu của anh chi chít các "định lý" mà anh gọi đó là kết quả. Nhờ vào điểm này, Samuelson đã kết hợp được những lập luận ngắn gọn nhưng sắc bén vào trong bài thuyết giảng và các ấn bản của mình, khiến chúng khác biệt so với vô số những phát biểu buồn tẻ và dài lê thê khác. Samuelson trở thành một giảng viên xuất chúng. Có lẽ không một nhà kinh tế học nào lúc bây giờ có thể tiếp bước thế hệ trước một cách thành công như Samuelson đã từng làm tại MIT. Tầm ảnh hưởng của anh giờ đây vươn xa ra khỏi Cambridge. Năm 1948, Samuelson tập trung các kiến thức bách khoa và sự tinh tế trong ngôn từ của mình vào trong quyển sách "Economics 101" (Kinh tế học 101). Tựa đề đơn giản chỉ là Kinh tế học nhưng như thế cũng là quá đủ đối với một cuốn sách bán chạy nhất trong mọi thời đại. Có lần Samuelson đã nói: "Nếu như tôi có thể viết cuốn sách này, hãy để những ai có mong muốn được viết nên những điều luật của quốc gia."

Samuelson là người theo chế độ dân chủ. Ông là người đã cố vấn cho ứng cử viên tranh cử tổng thống Adlai Stevenson và Tổng thống John Fitzgerald Kennedy các vấn đề kinh tế. Ông vẫn được đánh giá là nhà tư vấn đáng tin cậy dưới thời của Camelot. Giữa thập niên 1960, ảnh hưởng của Samuelson tới các nhà kinh tế học là tuyệt đối và gần như một tay ông đưa danh tiếng khoa kinh tế MIT lên đỉnh cao vinh quang.
READ MORE
Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2020
no image

Ngồi đợi may mắn tình cờ, chi bằng hãy nỗ lực giành lấy thành công mà mình muốn.

1. Trong thời đại cạnh tranh, thành công chỉ dựa trên kết quả chứ không kể đến quá trình

Trong thời đại kinh doanh đặt hiệu quả là ưu tiên hàng đầu thì hiệu suất là yếu tố vô cùng quan trọng. Dù bạn có chăm chỉ và bận rộn đến đâu, nếu bạn làm việc thiếu hiệu quả và không đạt được mụa tiêu cần thiết thì tất cả việc bạn làm đều vô ích. Chỉ khi đạt được hiệu quả, những nỗ lực của bạn mới được đền đáp, những vất vả mà bạn phải trải qua mới có giá trị.

Thành công là liều thuốc giải độc tốt nhất cho nỗi đau. Trong thời đại cạnh tranh, thành công chỉ dựa trên kết quả chứ không kể đến quá trình. Mặc dù vậy, nhưng nếu không trải qua quá trình nỗ lực và chăm chỉ thì bạn chẳng thể có được kết quả cho bất kì việc gì.

Sẽ không có bánh nướng rơi từ trên trời xuống và không có bữa trưa miễn phí trên thế giới này. Ngay cả khi bạn tình cờ đạt được sự thuận lợi, bạn không thể gọi đó là thành công, mà nó gọi là may mắn. Và may mắn thì rất khó kéo dài.

Thế giới này sẽ luôn thuộc về kẻ mạnh. Bất cứ ai có một chút kiến ​​thức lịch sử đều biết rằng kẻ mạnh luôn thống trị thế giới, giống như việc các tiêu chuẩn được đặt ra bởi các công ty lớn trong ngành nghề mà họ tham gia.

2. Không còn chuyện có tài năng nhưng không gặp thời, chúng ta đều phải không ngừng tìm kiếm cơ hội

Các nhà tâm lý học đã tiến hành một thí nghiệm như sau: Đặt một con cá sấu đang đói bụng và một vài con cá nhỏ ở hai đầu của bể cá, và chính giữa chúng được chặn bằng một tấm kính trong suốt.

Lúc đầu, cá sấu tấn công những con cá nhỏ không do dự và thất bại, nhưng nó không nản lòng, nó tiếp tục có một cuộc tấn công dữ dội thứ hai, nó lại thất bại và bị thương nặng; các cuộc tấn công lần thứ ba, lần thứ tư ... đều như vậy. Sau nhiều lần không thành công, nó không tiếp tục nữa.

Tại thời điểm này, nhà tâm lý học đã gỡ bỏ vách ngăn ra. Liệu cá sấu có còn tấn công những con cá nhỏ đó nữa không ? Câu trả lời là: nó đã dừng tấn công. Cá sấu nhìn một cách vô vọng những con cá nhỏ đó đang bơi thong thả dưới mắt nó và từ bỏ mọi nỗ lực.

3. Những người muốn "tình cờ" đạt được thành công thay vì “nỗ lực” đều không bao giờ có được nó

Từ thời xa xưa, đã có một câu nói phổ biến ở Trung Quốc rằng: “Mã vô dạ thảo bất phì, nhân vô hoạnh tài bất phú". Câu này có nghĩa là nếu  ngựa không ăn cỏ đêm sẽ không béo, người không có kế hoạch làm việc, kiếm tiền sẽ chẳng giàu sang.

Những người nghèo thường mong chờ vận may, tin vào cơ hội đổi đời trong chớp mắt. Khi không có cách nào để kiếm tiền đường đường chính chính, họ đặt hi vọng vào những nơi cung cấp cơ hội để “bỗng dưng phát tài", chẳng hạn như xổ số, cá cược hoặc sòng bạc, mặc dù xác suất để kiếm được tiền là vô cùng nhỏ. Nhưng với tình hình hiện tại, cơ hội đổi đời như vậy là vô cùng hiếm có.

4. Thành công là một quá trình hình thành và duy trì tính cách độc đáo của riêng bạn

Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế dựa trên tự do và bình đẳng, trong khi tự do và bình đẳng chắc chắn phải làm nổi bật tính cá nhân. Đây là một kỷ nguyên tự do và công khai, và thành công phải dựa vào chính bản thân bạn.

5. Che giấu sai lầm thường phải trả giá đắt hơn là thừa nhận sai lầm

Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt đã có bài phát biểu tại một thị trấn nhỏ ở New Jersey năm 1912. Khi ông nói trong bài phát biểu rằng phụ nữ nên tích cực tham gia các cuộc bầu cử, một người nào đó trong khán giả đột nhiên hét lên: "Thưa ông ! Câu này có khác với ý kiến ​​của ông năm năm trước không?".

Roosevelt không hề né tránh hoặc che đậy. Thay vào đó, ông trả lời một cách khôn ngoan: "Năm năm trước, tôi đã có một ý kiến khác, và bây giờ tôi đã nhận ra rằng ý kiến của tôi tại thời điểm đó là sai!". Câu trả lời thẳng thắn, trung thực và chân thành đó không chỉ cho phép người có được câu trả lời thỏa đáng, mà ngay cả những người khác cũng không thể cảm thấy khó chịu.

6. Bạn nên tập trung vào điểm mạnh của bản thân hơn là khắc phục điểm yếu

7 nguyên tắc vàng nhất định phải biết nếu muốn đời lên hương: Không còn chuyện có tài năng nhưng không gặp thời, những kẻ chờ thành công tình cờ mãi mãi không bao giờ có được nó - Ảnh 2.
Nguyên tắc là tận dụng tối đa điểm mạnh của bản thân và tập trung vào cách sử dụng chúng  để tối đa hóa điểm mạnh của mình, cũng có nghĩa là tối đa hóa giá trị của riêng bạn. Đối với cái gọi là thiếu sót, nhược điểm, điểm yếu, chúng ta nên tìm cách tránh, thay vì suy nghĩ về cách khắc phục.

7. Thay đổi công việc nhiều lần mà không có định hướng là sự lãng phí lớn nhất cuộc đời

Vương Trung Dương ở cuốn sách "Người tiếp thị tự tiếp thị" đã có phần "Định vị cuộc sống", trong đó viết rằng: Con người trong cuộc sống, hoặc phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hoặc theo hướng công nghiệp. Bạn không thể "nhảy" giữa các ngành nghề, vì việc thay đổi một cách mù quáng bất kể nghề nghiệp là sự lãng phí lớn nhất trong cuộc sống.

Theo Sohu
READ MORE
no image

Đó chính là hiểu được ý nghĩa và ý thức được mục đích trong công việc và cuộc sống. Các chuyên gia cũng đưa ra những câu hỏi gợi ý để giúp bạn xác định điều này.

Một nghiên cứu mới được công bố vào tháng Năm trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ của Đại học Michigan dựa trên các phân tích dữ liệu từ Nghiên cứu về Sức khỏe và Nghỉ hưu 27 năm đã khám phá ra được liều thuốc giúp con người sống hạnh phúc hơn và lâu hơn với công việc. Đó là sự tự ý thức được mục đích trong cuộc sống.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra những người tự ý thức mục đích sống thường sống lâu hơn so với những người ít thể hiện điều này ra.

Một nghiên cứu khác của Đại học Michigan vào năm 2010 cho thấy làm việc có ý thức và mục đích rõ ràng sẽ khiến động lực, năng suất và khả năng duy trì cao hơn rất nhiều.

Mục đích chính là câu trả lời sát sao nhất cho câu hỏi "Tại sao?".

Mục đích tạo cảm giác trách nhiệm, làm điều xứng đáng hơn với bản thân.

Mục đích gắn kết câu hỏi "bạn là ai" với câu hỏi "những gì bạn cần phải làm".

Mục đích truyền cảm hứng để bạn làm mới, thậm chí thay đổi lại các "cam kết" của bản thân trước đó và kéo dài thêm "list" cần làm hơn nữa.

Đó là lý do tại sao có ý thức về mục đích trong công việc lại có sức mạnh thay đổi cuộc đời một con người đến thế.

Nhưng làm thế nào để tự làm được điều này?

Rất đơn giản, hãy tự đánh giá bản thân.

Trong bài viết được đăng tải trên tạp chí Inc., Scott Mautz - nhà văn, cựu giám đốc điều hành cấp cao của P&G…, đã chia sẻ một số câu hỏi và chỉ cần những câu trả lời trung thực, bạn sẽ xác định được mục đích trong công việc cũng như cuộc sống.

1. Siêu năng lực của bạn là gì?

Câu hỏi này nghe có vẻ quá xa rời thực tế, nhưng không! Bạn nên biết những gì bạn thực sự giỏi và làm thế nào để có thể tận dụng được hết sức mạnh đó như một siêu anh hùng để làm điều tốt cho thế giới!

Khi bạn lựa chọn sử dụng sức mạnh siêu việt cho mục đích của mình thì sẽ còn có sức mạnh lớn hơn nâng bạn lên một vị trí siêu cường khác.

2. Giá trị và niềm tin của bạn là gì?

Điều bạn tin tưởng mạnh mẽ đến mức có thể ảnh hưởng đến hành động mỗi ngày là gì?

Sống đúng với những giá trị của bản thân là một trong những cách đơn giản và trực tiếp nhất.

Hơn thế nữa, khi mọi người ở nơi làm việc thấy bạn sống vô tư với giá trị của bản thân ngay cả trong lúc khó khăn thì điều này cũng có thể truyền cảm hứng đến họ.

3. Bạn sẽ làm không công điều gì?

Hãy chú ý đến những gì bạn mải mê làm mà quên bẵng thời gian. Bạn đang mơ mộng về việc gì?

Không ngờ khoảng thời gian tưởng lãng phí ấy lại mang đến nhiều hơn là mất. Đây có thể là tín hiệu của dự định hay ho nào đó và nếu theo đuổi quyết liệt hơn nữa thì chắc chắn kết quả là những trái thơm.

4. Những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của bạn là gì?

Bạn đã làm gì đặc biết trong những khoảnh khắc này và niềm vui từ đó mang đến cho bạn như thế nào? Hãy lưu giữ nguồn gốc của hạnh phúc vì đó có thể là "manh mối" trên con đường tìm kiếm mục đích cuộc sống.

5. Bạn đã học được gì từ những thành công trong sự nghiệp và chiến thắng?

Bước ngoặt sai lầm trong sự nghiệp không bao giờ là tồi tệ, mà đó chính là kinh nghiệm vô giá sẽ giúp bạn rất nhiều. Suy ngẫm về những gì đã làm trong cả thất bại và chiến thắng sẽ mang lại niềm vui. Bạn là ai trong thời gian đó? Bạn đã làm được và phải đánh đổi điều gì nổi trội để đạt được thành công này? Mục đích không nằm ngoài những câu hỏi này.

Bước ngoặt sai lầm trong sự nghiệp không bao giờ là tồi tệ, mà đó chính là kinh nghiệm vô giá sẽ giúp bạn rất nhiều. Suy ngẫm về những gì đã làm trong cả thất bại và chiến thắng sẽ mang lại niềm vui. Bạn là ai trong thời gian đó? Bạn đã làm được và phải đánh đổi điều gì nổi trội để đạt được thành công này? Mục đích không nằm ngoài những câu hỏi này.

6. Những việc cần làm là gì?

Vấn đề cần phải giải quyết là gì? Bạn có thể đáp ứng được nhu cầu gì của thế giới? Hãy chú ý đến những đích đến cao hơn, lớn hơn bạn và nội hàm của câu hỏi này. Mục đích của mỗi người nuôi dưỡng thứ lớn hơn những gì tưởng tượng.

7. Đồng nghiệp sẽ bỏ lỡ điều gi nếu bạn vắng mặt một hôm?

Câu hỏi này nói lên những đặc điểm từ tính đầy cảm hứng của bạn mà những người khác đều bị thu hút. Những gì bị bỏ lỡ chính là dấu hiệu nhận biết về điều bạn có thể duy trì và phục vụ cho những mục đích của bản thân.

8. Mọi người sẽ nói gì về các dự định của bạn?

Những chi tiết nào mà người khác cảm thấy buộc phải nói về sự vắng mặt của bạn? Họ nói gì về tài năng của bạn? Bạn đã bảo giờ nghe đến câu "Wow, bạn có thể là một..." chưa? Vẫn còn nhiều mảnh ghép trên con đường đến mục đích thật sự.

Vì vậy, có mục đích là để khám phá, kết nối, để sống và làm việc ý nghĩa hơn. Hơn nữa, hạnh phúc và sự hài lòng của bạn sẽ còn kéo dài mãi mãi.
READ MORE
Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020
no image

Dưới đây là 10 phương pháp dưỡng sinh đơn giản và dễ làm theo, bạn nên sớm lên lịch để áp dụng càng sớm càng hữu ích.

10 bí quyết dưỡng sinh không tốn kém nhưng hiệu quả suốt đời

Ngày nay, khái niệm chăm sóc sức khỏe chủ động hay còn gọi là dưỡng sinh rất được mọi người hoan nghênh. So với việc phải điều trị bệnh, quá trình dưỡng sinh chăm sóc sức khỏe mang lại lợi ích rất lớn.

Chỉ cần bạn chăm chỉ thực hiện các công đoạn dưỡng sinh mỗi ngày, có thể ngăn ngừa sự xuất hiện của các bệnh khác nhau, đặc biệt có thể trì hoãn sự lão hóa của cơ thể con người một cách hiệu quả. Điều này đã được các danh y thực hiện từ hàng ngàn năm nay và chưa bao giờ không đạt được hiệu quả như ý.

Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều người tham gia vào các nhóm thực hành dưỡng sinh, chăm sóc sức khỏe chủ động ngay tại nhà, đặc biệt là dưới sự giới thiệu của nhiều người nổi tiếng.

Trên thực tế, chăm sóc sức khỏe hàng ngày không hề khó. Nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe đơn giản và dễ học có tác dụng rõ rệt và hiệu quả tuyệt vời. Chúng ta có thể gắn bó lâu dài với những hành động nhỏ hàng ngày trong khi ý nghĩa của nó đối với sức khỏe con người là rất phi thường.

Dưới đây là 10 phương pháp dưỡng sinh đơn giản và dễ làm theo, bạn nên sớm lên lịch để áp dụng càng sớm càng hữu ích.

1. Chải tóc bằng lược gỗ hoặc bằng các ngón tay

Có nhiều huyệt đạo trên đầu, có thể khơi thông tất cả các loại kinh tuyến bằng cách chải tóc bằng lược gỗ hoặc tay. Khi chải đầu, những huyệt đạo này có thể được xoa bóp tốt để thư giãn não và tăng cường tốt hơn các kinh mạch và mô trên cơ thể, giúp kết nối và thông suốt giữa các cơ quan cơ thể.

Ngoài ra, việc mát xa đầu có thể tránh được tình trạng rụng tóc và các hiện tượng bệnh lý ở đầu khác. Vì vậy, thường xuyên chải tóc bằng lược gỗ hoặc các ngón tay, xoa bóp đầu có ý nghĩa rất lớn trong việc dưỡng sinh và tăng cường sức khỏe.

2. Cố gắng đi bộ thay vì xe

Đi bộ là một cách tốt để tập thể dục, vì vậy hãy chọn cơ hội để được đi bộ thay thế đi xe và các phương tiện khác là một cách tốt để duy trì sức khỏe.

Cách này không chỉ có thể thúc đẩy lưu thông máu của chân cũng như toàn bộ cơ thể, mà còn tăng cường các chức năng khác của cơ thể, thúc đẩy hiệu quả sự phân hủy mỡ trong cơ thể.

Đây là một giải pháp dưỡng sinh vô cùng tốt để duy trì sức khỏe ổn định, chỉ cần thay thế đi xe bằng cách đi bộ ở những nơi có khoảng cách ngắn, cự ly gần.

3. Ngâm chân

Có rất nhiều huyệt đạo ở lòng bàn chân, chúng được bố trí chằng chịt và phổ biến ở hầu khắp lòng bàn chân. Do đó, việc tạo cho mình thói quen ngâm chân có thể làm thông thoáng những huyệt vị này và kích thích bàn chân, tác động lên cơ thể, làm cho các kinh mạch thông thoáng, điều hòa, từ đó đạt được mục đích phòng ngừa bệnh hiệu quả.

Tuy nhiên, có nhiều điều bạn cần lưu ý khi áp dụng biện pháp dưỡng sinh khi ngâm chân, điều này không thể thực hiện tùy tiện.

Ví dụ, nhiệt độ của nước ngâm chân không nên quá cao. Nói chung, nó phù hợp hơn trong khoảng 40-50 độ. Mặt khác, việc lựa chọn thời gian để ngâm chân cũng rất quan trọng. Thông thường, bạn nên ngâm vào lúc 9h đêm trước khi đi ngủ là phù hợp, có tác dụng dưỡng sinh tốt hơn.

Ngoài ra, cần dựa theo đặc điểm thể chất của từng cá nhân, bạn có thể thêm các thành phần khác vào trong nước ngâm chân để tăng hiệu quả phòng và chữa bệnh. Ví dụ như lá ngải cứu, gừng tươi… điều này cũng rất hữu ích để đạt được hiệu quả duy trì sức khỏe và dưỡng sinh lâu dài.

4. Ăn/uống canh trước bữa ăn

Các món canh thường được đánh giá là giàu dinh dưỡng vì thông thường được nấu từ nhiều nguyên liệu khác nhau trong cùng một nồi, do đó mà tác dụng bồi bổ sức khỏe của món canh rất lớn, đặc biệt là các thành phần trong canh dễ được cơ thể hấp thụ hơn và có thể nuôi dưỡng dạ dày, đường ruột.

Vì vậy, duy trì thói quen ăn canh trước bữa ăn cũng là một cách tốt để duy trì sức khỏe, đặc biệt là bạn hoàn toàn có thể dựa theo nhu cầu dinh dưỡng mà cơ thể cần để lên kế hoạch hợp lý trong việc lựa chọn các thành phần nguyên liệu khi nấu canh.

Đây chính là giải pháp ăn uống khoa học, mang lại hiệu quả chăm sóc sức khỏe và dưỡng sinh tốt, hữu ích lớn trong việc kéo dài cuộc sống.

5. Chạy bộ chậm

Chạy bộ chậm có tác dụng tốt trong việc phục hồi chức năng của cơ thể con người, bài tiết dopamine của cơ thể, đồng thời cũng có thể đóng một vai trò nhất định trong việc duy trì sức khỏe.

Tập thể dục bằng hình thức chạy bộ chậm để rèn luyệt sức khỏe rất phổ biến trong những năm gần đây và nó có thể có tác dụng chống lão hóa rất hiệu quả.

6, Ăn chậm nhai kỹ

Thói quen ăn uống tốt cũng là một cách tốt để duy trì sức khỏe, đặc biệt là ăn chậm nhai kỹ có thể làm giảm áp lực lên dạ dày và ruột, từ đó có thể thúc đẩy quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng hiệu quả.

Mỗi người nên tập cho mình thói quen ăn chậm nhai kỹ, lợi ích từ việc ăn uống đúng cách sẽ hiệu quả hơn rất nhiều trong quá trình dưỡng sinh.

7. Thường xuyên mỉm cười

Một nụ cười đơn giản cũng có thể đạt được hiệu quả tốt cho sức khỏe, đặc biệt là khi bạn cười vào mỗi buổi sáng để làm cho tâm trạng của bạn dễ chịu hơn.

8. Thực hiện các động tác kéo giãn cơ thể

Thói quen kéo giãn cơ thể như vươn vai, ưỡn ngực hay kéo toàn bộ chân tay ra các hướng khác nhau có thể thúc đẩy lưu thông máu và đẩy nhanh quá trình lưu thông và vận hành trong mạch máu.

Do đó, duy trì thói quen thực hiện một số bài tập kéo giãn cơ thể đơn giản sau khi làm việc có thể đạt được hiệu quả giữ sức khỏe tốt, mang lại lợi ích dưỡng sinh lâu dài.

9, Xoay mắt theo chiều kim đồng hồ

Mắt là cửa sổ của tâm hồn, phản ánh sức khỏe và sự tinh anh, nhanh nhẹn của mỗi người. Đồng thời mắt còn liên quan đến rất nhiều mạch máu và kinh mạch trong cơ thể.

Xoay mắt theo chiều kim đồng hồ giúp thư giãn các mạch máu và kinh tuyến, do đó làm giảm mỏi mắt và đạt được hiệu quả chăm sóc sức khỏe, trong dài hạn mang lại tác dụng dưỡng sinh tuyệt vời.

10. Massage bụng

Massage bụng cũng là một thói quen đơn giản có thể thúc đẩy nhu động ruột và đẩy nhanh quá trình tiêu hóa.

Việc xoa bụng có thể thực hiện trong những thời gian bạn rảnh rỗi, trước khi đi ngủ và sau khi ngủ dậy.

Thực hiện xoa bóp bụng theo chiều kim đồng hồ đơn giản hàng ngày cũng là cách giúp phòng tránh sự xuất hiện sự tích lũy thức ăn thừa, cặn bã trong đường ruột, gây ra những tác hại bất lợi cho hệ thống tiêu hóa.

Qua nghiên cứu nội dung trên, chúng ta có thể thấy rằng trên thực tế, không khó để duy trì những thói quen chăm sóc sức khỏe chủ động mà không tốn tiền, nhiều trong số đó nằm trong khả năng hàng ngày của mỗi người, vì vậy không khó để bắt đầu từ các chi tiết nhỏ trong thói quen để đảm bảo sức khỏe lâu dài, nâng cao tuổi thọ.


*Theo Health/Sohu
READ MORE
no image

Thực tế chứng minh khả năng giữ cho “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” và duy trì tâm trạng lạc quan trong thời kỳ khủng hoảng đã đóng 1 vai trò quan trọng tạo nên thành công của Buffett.
7-loi-khuyen-warren-buffett-danh-tang-cho-nha-dau-tu-trong-mot-thi-truong-lao-doc

Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett

Nếu nhà đầu tư muốn tìm kiếm những lời an ủi khi thị trường lao dốc, hãy tìm đến Warren Buffett. Nhà tiên tri xứ Omaha luôn xuất hiện trên tivi hoặc các trang báo lớn để đưa ra lời khuyên gần như trong mọi cuộc khủng hoảng, từ cuộc khủng hoảng 1973-1974, sự kiện Ngày Thứ Hai đen tối (19/10/1987), bong bóng dot-com (2000-2001) cho đến cú sụt giảm sâu sau vụ khủng bố 11/9 và cuộc Đại Suy Thoái (2007-2009)…

Ở Buffett luôn là 1 cái đầu lạnh giữ cho tâm trí bình ổn trước mọi sóng gió. Thực tế cũng chứng minh khả năng giữ cho “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” và duy trì tâm trạng lạc quan trong thời kỳ khủng hoảng đã đóng 1 vai trò quan trọng tạo nên thành công của Buffett. Từ năm 1965 đến 2017, giá trị vốn hóa của Berkshire đạt tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 20,9%, cao hơn gấp đôi so với mức tăng trưởng 9,9% của chỉ số S&P 500 trong cùng kỳ.

Trong bối cảnh VnIndex đang ở trong giai đoạn điều chỉnh mạnh như hiện nay, hãy cùng nghiền ngẫm những lời khuyên đáng giá của huyền thoại Warren Buffett.

1. Bất cứ lúc nào cổ phiếu cũng có thể lao dốc rất nhanh và rất sâu
Trong bức thư gửi cổ đông năm 2017, Buffett cho biết: “Rất khó có thể đoán biết trước được giá cổ phiếu sẽ sụt giảm lớn như thế nào chỉ trong một thời gian ngắn.”

Khi đầu tư vào cổ phiếu, rủi ro xuất hiện khi đồ thị giá đảo chiều. Thực tế, cổ phiếu không thường xuyên xuống giá, nhưng với nhà đầu tư chúng luôn trong trạng thái phản ứng không thể lường trước.

Dưới đây là số liệu thống kê các mức sụt giảm lớn của thị trường trong 60 năm (từ năm 1948 -2007):

7-loi-khuyen-warren-buffett-danh-tang-cho-nha-dau-tu-trong-mot-thi-truong-lao-doc

(Nguồn: Capital Research and Management)

Một thống kê do Hiệp hội các nhà đầu tư độc lập Mỹ và CFRA Research cho biết trong 70 năm (từ giữa năm 1945 đến 2016): Chỉ số S&P 500 có 56 lần sụt giảm 5%- 9,9% trong 56 lần, 21 lần giảm 10%-19,9%, 9 lần giảm 20 – 39,9% và 3 lần giảm từ 40% trở lên.

Thị trường sụt giảm là điều tất yếu sẽ xảy ra, khó có thể tránh khỏi – và chúng có đủ loại kích cỡ và hình dạng.

2. Tránh xa vay margin
Theo lời Buffett, “Đầu tư không phải là một trò chơi nơi người có IQ 160 thắng IQ 130. Nếu như bạn có một trí tuệ bình thường, bạn chỉ cần giữ mình trong một tâm trạng ổn định trong lúc nhiều nhà đầu tư khác lao vào rắc rối là đã có lợi thế .”

Trong khi nhà đầu tư dễ quyết định sai lầm do tác động của đồ thị giá hoặc biến động cảm xúc của chính mình, thì rất tiếc họ lại thường tự đưa mình vào tình huống ngặt nghèo hơn bằng cách vay thêm tiền từ công ty chứng khoán (vay margin). Họ không biết rằng số tiền lãi phải trả sẽ làm hao mòn tài khoản của họ.

Buffett viết: “Thậm chí dù chỉ mượn một khoản tiền nhỏ và cho dù bạn vẫn đủ vững trước một thị trường đang lao dốc, thì những dòng tít đầu trang nhất của các tờ báo và những lời bình luận cay cú từ nhiều người mà bạn không biết cũng đủ để tâm trí của bạn trở nên lo lắng và rung động. Và một tâm trí không ổn định thì sẽ dễ ra quyết định sai.”

3. Đừng dự đoán thị trường tiếp theo ra sao
Đừng tốn thời gian dự đoán thị trường sẽ ra sao trong thời gian tương lai. Chỉ cần biết điều gì đến sẽ đến,

Trong bức thư gửi cổ đông năm 2017, Buffett từng chỉ ra trong hơn 53 năm về trước đã có bốn lần cố phiếu Berkshire đã sụt giảm hơn 37%. Lần lớn nhất là vào khoảng thời gian tháng Ba năm 1973 đến tháng Một năm 1975, giảm đến 59%. Sau đó, cổ phiếu Berkshire lại chịu thêm một số lần tổn thất nặng.

“Không ai có thể nào biết trước được điều đó sẽ xảy ra. Màu xanh của hàng loạt các cổ phiếu trên bảng giá có thể chuyển sang đỏ bất cứ lúc nào, mà không cần phải qua ngưỡng vàng.” – Warren Buffett từng nói.

Với các đợt lao dốc từ thị trường chứng khoán trong nước, cộng thêm ảnh hưởng đồng thời từ các thị trường nước ngoài, tài khoản các nhà đầu tư phải gánh chịu đầy những đau đớn. Nhưng không quan trọng bạn mong muốn tránh nó ra sao, dự đoán thị trường biến động tương lai là điều không thể.

4. Đừng mua bán cổ phiếu theo các hình ‘nến’ xanh đỏ
“Charlie và Tôi nhìn cổ phiếu với góc nhìn cho rằng đó là doanh nghiệp mà Berkshire sẽ sở hữu, không phải là các dấu hiệu mua đi bán lại thông qua các hình ‘nến’ xanh đỏ trên đồ thị kỹ thuật, hay là mục tiêu về ‘giá’ mà các chuyên gia đưa ra hay các quan điểm được đưa tin rầm rộ trên giới truyền thông. Thay vào đó, chúng tôi đơn giản chỉ tin rằng nếu mô hình kinh doanh mà chúng tôi đầu tư vào là thành công (và đa phần đều như thế) thì tức là chúng tôi thành công.” – Warren Buffett.

Trong một thị trường con gấu, đa phần các doanh nghiệp với mô hình kinh doanh tốt và có lợi thế cạnh tranh lớn sẽ thường ít chịu ảnh hưởng rớt giá so với các doanh nghiệp cùng ngành.

Trong lá thư gửi cổ đông thường niên năm 1994, Buffett đã giải thích lý do tại sao các nhà đầu tư nên tránh việc dự báo thị trường: “Nếu chúng ta suy nghĩ đúng đắn về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cho rằng doanh nghiệp đó hấp dẫn, chúng ta sẽ là những kẻ ngốc nếu như không hành động chỉ bởi vì những dự báo không hay về thị trường. Nếu bạn phán đoán đúng về doanh nghiệp, dù sao đi nữa bạn sẽ có được kết thúc tốt đẹp”.

Buffett cũng cho rằng sẽ là.”sai lầm lớn” nếu như không đầu tư vào một doanh nghiệp vĩ đại chỉ vì những lo ngại về thị trường. Năm 11 tuổi, Buffett bắt đầu mua cổ phiếu. Đó là vào năm 1942, khi mà nước Mỹ đang chìm trong rắc rối của Chiến tranh thế giới thứ hai với đầy rẫy những câu chuyện đáng sợ như thế chiến, vũ khí nguyên tử, khủng hoảng lạm phát, và hàng thập kỷ bất ổn chính trị. Theo Buffett, nếu như nhà đầu tư tránh xa thị trường bởi những nỗi lo mang tính vĩ mô như thế này, họ sẽ đánh mất những cơ hội lớn để nâng tầm ảnh hưởng tài sản của mình.

Ngược lại, theo Buffett, môi trường tệ nhất đối với một nhà đầu tư dài hạn lại chính là 1 thị trường đang tăng điểm một cách phi lý và đà tăng ấy lại kéo dài.

“Điều tuyệt nhất đứng từ góc độ Berkshire Hathaway mà nói, là đã đi qua nhiều giai đoạn thị trường lao dốc… Chúng tôi là những người mua hàng, và nếu bạn là những người mua hàng ở các cửa hiệu tạp hóa, bạn sẽ rất thích thú khi giá hàng hóa giảm dần hàng ngày… Điều mà chúng tôi sợ là thị trường tăng điểm một cách phi lý trong suốt thời gian dài”.

5. Tiếp tục giữ vững bản thân cùng thị trường
Đừng là một nhà đầu tư run sợ đến mức rút tiền khỏi thị trường. Hãy tiếp tục với danh mục đầu tư của mình từ trước đó.

Lịch sử cho thấy qua cơn khủng hoảng thì thị trường sẽ liên tục tăng và tạo ra sức hút lớn cho các nhà đầu tư. Trong hơn 100 năm qua, dù vượt qua 13 cuộc suy thoái kinh tế, chỉ số Công nghiệp Dow Jones vẫn tăng 10,3% mỗi năm.

Trong bức thư gửi cổ đông năm 2012, Buffett viết: “Cuộc chơi vẫn còn rất hấp dẫn, Charlie và tôi cho rằng sẽ là một sai lầm lớn nếu nhà đầu tư cố gắng rời khỏi thị trường chỉ vì đi bói vận đen-đỏ ở một ván bài tarot, hay nhờ dự đoán của ‘chuyên gia tài chính’, hay chỉ là do thay đổi tạm thời của đồ thị giá. Rủi ro mất tiền dành cho nhà đầu tư nếu ra khỏi thị trường như vậy là quá lớn, nếu đem ra so với việc họ tiếp tục trụ lại trên thị trường.”

6. Lợi dụng rằng thị trường đang xấu, mua thêm cổ phiếu mới
Còn tốt hơn là chỉ giữ vững danh mục, nhà đầu tư có thể tìm chọn – mua sắm thêm cổ phiếu mới.

Trong một thị trường con bò tót, nhà đầu tư thường hiếm khi tìm thấy một mức giá phải chăng để chọn lựa mua cổ phiếu tốt- dù doanh nghiệp có tốt, cổ phiếu vẫn có thể được bán ở mức giá cao khiến họ không mua nổi được.

Nhưng trong một thị trường lao dốc ầm ầm, thì đó là cơ hội hiếm hoi để họ dễ dàng có thể tìm thấy được giá cổ phiếu của một doanh nghiệp tốt (cho là nhà đầu tư đã lựa chọn được) đang được bán ra ở mức chiết khấu tương đối phải chăng- và họ có thể dốc túi tiền ra mua.

Buffett cho biết, “Hãy tham lam khi người khác sợ hãi và hãy sợ hãi khi người khác tham lam!”. Hay nói cách khác, khi những cơn sụt giảm lớn của thị trường đến… thì đó là cơ hội trời cho để cho những nhà đầu tư dám xông tay vào, trong trường hợp họ không phải lo lắng về nợ nần.8 of 9

7. Tập trung giữ cổ phiếu với mục tiêu dài hạn
Đừng tập trung vào các dự báo kinh tế ngắn hạn hay các tít nóng phổ thông trong lúc thị trường đang lúc lao dốc. Nhà đầu tư không phải là các nhà giao dịch thường xuyên. Họ nhìn nhận các doanh nghiệp với góc nhìn dài hạn.

Trong bức thư gửi cổ đông năm 2017, Buffett viết:

“Cổ phiếu lên và xuống, mà những biến động này nhiều khi chẳng liên quan gì đến giá trị thực sự mà doanh nghiệp đó đang tích lũy. Nhưng theo thời gian, Ben Graham đã nói đúng: “Trong ngắn hạn, thị trường là cỗ máy bỏ phiếu. Trong dài hạn, thị trường là bàn cân”.
READ MORE
Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020
no image


Cuộc đời mình (admin 3) đã gặp rất rất nhiều người có trí nhưng không có tiền, và bản thân cũng đã từng trải qua cảm giác đó, chỉ vài tháng thôi nhưng đó là khoảng thời gian hơn cả khủng khiếp. Họ đủ trí để biết mọi lời khôn khéo trên đời, chẳng hạn như "hãy biết đủ, hãy vui với những gì mình có, vẫn còn hơn bao người bất hạnh khác" chẳng hạn. Nhưng tất cả chỉ là cảm giác thoả mãn phút giây, sau đó lại rơi vào trạng thái rối loạn cảm xúc, giữa một bên là nhu cầu khẳng định giá trị bản thân, nhu cầu thể hiện cái tôi (nhu cầu cao nhất của tháp Maslow) và một bên là không có nguồn lực tài chính thực hiện. Lực bất tòng theo tâm mình muốn thì có gì đau đớn bằng. Mình thường gặp họ ở các quán cà phê đô thị lớn, các quán nhậu hơn mức bình dân nhưng dưới mức sang, và rất nhiều người đang sống trên mạng, cầm điện thoại hay laptop cả ngày và mắt đắm chìm nhìn vào đó, xem hết tin này tới tin khác, coi hết FB người này tới người khác. Mình cứ "hi" là họ "hi" lại liền.

Thà không có trí nhiều, như 1 anh nông dân ngây thơ nào đó, cứ xong việc đồng áng thì lăn ra ngủ, nông sản ế thì khóc, nông sản cao giá thì cười, không có tiền thì ra đồng bắt ốc hái rau. Với họ, việc không có tiền không có gì khủng khiếp lắm. Như chú công nhân vui vẻ với tiền công nhật kiếm được, chủ ứng tiền thì ghé vỉa hè làm chai bia, xài hết tiền rồi về ngủ, mất việc với họ cũng nhẹ nhàng, thôi đi xin việc khác kiếm cơm qua ngày. Nếu đời vậy thì cũng bình yên, không có gì đáng chê trách cả. Nhưng với người có trí, khi nhìn thấy người khác có được cái mà mình mong muốn, mà mình lại không có được, một cảm giác vô cùng khó chịu giằng xé trong đầu họ. Cảm giác ganh ghét, đố kỵ và tự nhủ không nên ganh ghét đố kỵ nữa, vậy là xấu lắm đó tôi ơi. Và thấy người thành công ngã ngựa, cảm giác đan xen là vừa hả hê lại vừa buồn thương. Và với bản thân mình, vừa tự tìm cách an ủi lại tìm cách trách móc. Cảm giác này sẽ dẫn con người theo 2 hướng:

1. Hướng tiêu cực là trở thành NGƯỜI BẤT ĐẮC CHÍ, chê hết thảy, cho rằng ai cũng dở kém hơn mình, nhưng họ thành công vì gặp thời, may mắn, thực dụng kiếm tiền (tìm 1 số lý do khách quan nào đó), còn mình thì "sẽ có hướng đi riêng, không ai thành công hơn ai cả". Họ chỉ nể những người nào đó mà thật sự họ không biết rõ (ví dụ các danh nhân lịch sử học đọc được qua trang sách, hoặc các tỷ phú USD họ cũng đọc được trên sách báo chứ họ làm gì có cửa quen biết với họ). Một cảm giác vừa cay đắng vừa xót xa vừa kiêu hãnh, rất đặc trưng của nhóm người này. Và họ tự ái dữ dội, bất cứ lời chê nào cũng là ngòi nổ thùng thuốc súng chất chứa trong lòng họ bấy lâu.
TỰ ÁI là tự mình yêu mình, chỉ có ở nhóm người còn ở vị thế rất thấp. Còn người có thành tựu thực sự, hoặc ở tầm cao, họ không hề có tự ái. Người tự ái còn nguy hiểm ở chỗ là suy diễn rất kinh, vì họ nghĩ "ai ai cũng nói đến họ", câu nào cũng "chắc là nói mình đây"...trong khi thực tế là mình vô danh, đâu có đáng để người ta nói đâu. Mình tự nghĩ thế thôi.

2. Với người có trí mà không có tiền, nếu theo hướng tư duy tích cực thì họ sẽ nhận ra vấn đề, tự mình một ngày NGỘ ra và tự mình có giải pháp, một cách quyết liệt. Bàng hoàng nhận ra mình không giỏi, không ngon, không cao sang như mình nghĩ, mình đã rất tào lao rồi, mình đã lãng phí thời gian quá rồi, thường là có 1 cú sốc gì đó rất lớn. Ví dụ bị bệnh nan y, hoặc người thân qua đời mà họ không giúp được. Họ thấy được cái chết là cái chính bản thân họ sẽ phải đối diện trong tương lai, QUỸ THỜI GIAN ĐỜI NGƯỜI KHÔNG CÒN DÀI NỮA, và bắt đầu trưởng thành. Không còn bàn bạc chuyện phiếm nữa. Hạ cái tôi, bỏ cái sĩ diện hão, bắt đầu lao ra làm một cách thực tế, vội vã làm. Họ sẽ bớt lười biếng (vì nhóm này thích đọc sách, đọc tin tức, thấu hiểu nội dung và hiểu biết rất nhiều đông tây kim cổ, thích viết và thích nói, chỉ có làm là không được vì bản thân có bệnh lười biếng, nhất là hoạt động thể chất). Thất bại rất nhiều khi ra làm, vì họ là người thiếu kỹ năng và nhiều chứng bệnh SĨ còn rơi rớt khiến họ rất khó làm việc với người khác. Nhưng cuối cùng thì họ có thành tựu. Lớn nhỏ thì tuỳ may mắn của đời người. NHƯNG KHÔNG LÀM THÌ TUYỆT NHIÊN KHÔNG CÓ MAY MẮN. Thần may mắn thích mùi mô hôi người, ông ấy chỉ xuất hiện khi ta đổ mồ hôi, sôi nước mắt.

Những người trẻ có trí mà "biết mình biết ta" sớm, chịu lao động sớm thì bước vô nhóm CÓ TRÍ VÀ CÓ TIỀN. Dù ở đâu, họ cũng tự tìm niềm vui, phong lưu khoáng đạt, khẳng định được giá trị bản thân mình. Niềm vui của họ không phải vì sở hữu tài sản cá nhân, mà là giúp người, giúp quê hương.
READ MORE